Một số nhà khoa học Việt Nam tuổi Tuất

Email In PDF

Nhân dịp Xuân Mậu Tuất 2018, Tạp chí xin trân trọng giới thiệu tới đông đảo bạn đọc một số nhà khoa học Việt Nam tuổi Tuất đã có nhiều cống hiến cho nền khoa học và công nghệ (KH&CN) nước nhà. Đó là, GS Tạ Quang Bửu (Canh Tuất) - Người đã đặt nền móng cho lĩnh vực khoa học và kỹ thuật quân sự; GS Đoàn Trọng Truyến (Nhâm Tuất) - Người có nhiều đóng góp cho nghiên cứu cải cách bộ máy hành chính nhà nước; GS Phan Huy Lê (Giáp Tuất) - Người tạo ra bước đột phá về lý luận và phương pháp trong nhận thức lịch sử và văn hóa Việt Nam; PGS.VS Tôn Thất Bách - Người có “đôi tay vàng”. Bên cạnh những cây đại thụ trong làng khoa học là một số gương mặt tiêu biểu trong công bố quốc tế và xuất bản các ấn phẩm khoa học như: GS.TS Nguyễn Hữu Đức (Mậu Tuất), GS.TS Lê Thị Thanh Nhàn (Canh Tuất), PGS.TS Phạm Văn Phúc (Nhâm Tuất).

 

GS Tạ Quang Bửu (tuổi Canh Tuất)

TaQuangBuu

GS Tạ Quang Bửu sinh năm 1910 tại Nghệ An, mất năm 1986. Ông là người đặt nền móng cho lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự Việt Nam, có nhiều cống hiến cho sự nghiệp cách mạng và giải phóng dân tộc cũng như nền khoa học nước nhà, góp phần không nhỏ trong sự nghiệp phát triển giáo dục của Việt Nam.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), mặc dù được giao nhiều trọng trách trong Chính phủ, và trong điều kiện làm việc thiếu thốn, khó khăn của chiến khu, nhưng GS Tạ Quang Bửu vẫn dành thời gian nghiên cứu và xuất bản những công trình khoa học kỹ thuật hiện đại như: “Nguyên tử - hạt nhân - vũ trụ tuyến”, “Sống”, “Vật lý cương yếu”, “Thống kê đại cương”…

Là một cán bộ lãnh đạo trong Bộ Quốc phòng, được phân công phụ trách công tác hậu cần, GS Tạ Quang Bửu đã chỉ đạo, cho ý kiến về việc tự tạo các loại vũ khí và khai thác sử dụng có hiệu quả những vũ khí do các nước bạn viện trợ, góp phần nâng cao sức mạnh quân sự của ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Sau kháng chiến chống thực dân Pháp, GS Tạ Quang Bửu được giao thành lập Ủy ban Khoa học Nhà nước, nay là Bộ KH&CN (là Phó Chủ nhiệm kiêm Tổng thư ký), sau đó là Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, rồi Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Ông là người đề xuất và kiên trì thực hiện việc bồi dưỡng nhân tài, chú trọng chỉ đạo các công trình khoa học trọng điểm phục vụ xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, chú trọng việc hợp tác khoa học kỹ thuật với nước ngoài... để chuẩn bị tiềm lực cho việc phát triển đất nước sau chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Bên cạnh nhiệm vụ chỉ đạo, quản lý hoạt động khoa học của đất nước, GS Tạ Quang Bửu vẫn dành thời gian trực tiếp thuyết trình các vấn đề mới về khoa học, đặc biệt là toán học và các ngành khoa học cơ bản, ở các trường đại học, viện nghiên cứu cấp quốc gia.

Để góp phần đối phó với cuộc chiến tranh chống phá miền Bắc bằng nhiều phương tiện hiện đại của đế quốc Mỹ, GS Tạ Quang Bửu đã được giao chỉ đạo các nhiệm vụ kỹ thuật quan trọng như: Rà phá bom từ trường, thủy lôi từ tính của Mỹ phong tỏa Hải Phòng và vịnh Bắc Bộ; thi công cầu cáp dây để đảm bảo giao thông khi địch làm hỏng những cầu chính; đưa ra các giải pháp kỹ thuật tối ưu cho Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam duy trì phát sóng trong tình huống bị địch đánh phá; tận dụng phân, rác thải xây dựng những hầm khí sinh học phục vụ cho sinh hoạt của bộ đội ở những nơi đóng quân đông và có khó khăn trong việc cung cấp chất đốt.

GS Tạ Quang Bửu đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN đợt 1 (năm 1996) vì đã có công lao tập hợp các công trình giới thiệu khoa học kỹ thuật hiện đại (sau 1945) và chỉ đạo các nhiệm vụ kỹ thuật quan trọng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

GS Đoàn Trọng Truyến (tuổi Nhâm Tuất)

DoanTrongTruyen

GS.NGND Đoàn Trọng Truyến sinh năm 1922 tại Thừa Thiên - Huế, mất năm 2009. Ông là Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước (1981-1984); Bộ trưởng, Tổng thư ký Hội đồng Bộ trưởng kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng (1984-1987); Hiệu trưởng Trường Hành chính Trung ương (1987-1992).

GS Đoàn Trọng Truyến có nhiều đóng góp cho nghiên cứu cải cách bộ máy hành chính nhà nước. Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về KH&CN (đợt 2) cho cụm công trình về cải cách bộ máy hành chính nhà nước. Cụm công trình này có nội dung khoa học mới và sáng tạo, lần đầu tiên giới thiệu và truyền bá trong nước về khoa học hành chính, xem hành chính không chỉ là công tác có tính chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý nhà nước mà còn là một ngành khoa học có đối tượng nghiên cứu, phương pháp luận, nội dung mang tính lý luận.

Cụm công trình đã góp phần nâng công tác hành chính nhà nước lên tầm khoa học, lý luận; xây dựng và phát triển nền hành chính Việt Nam; góp phần hình thành những chủ trương, biện pháp của Chính phủ về cải cách nền hành chính nhà nước; đóng góp cho một số Nghị quyết của Đảng và Chính phủ về cải cách hành chính; góp phần xây dựng các chương trình, nội dung, giáo trình về hành chính học và nền hành chính nhà nước cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ hành chính.

GS Phan Huy Lê (tuổi Giáp Tuất)

PhanHuyLe

GS.VS.NGND Phan Huy Lê sinh năm 1934 tại Hà Tĩnh. Ông là một trong những chuyên gia hàng đầu về lịch sử Việt Nam, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam từ khóa II (1990-1995) cho đến khóa VII (2016-2020).

Trong cuộc đời nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử, ông đã chủ biên, đồng chủ biên nhiều cuốn sách có giá trị cao trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập về lịch sử; công bố hàng trăm bài báo, báo cáo khoa học ở trong và ngoài nước. Đặc biệt có thể kể đến công trình “Tìm về cội nguồn” (được tặng Giải thưởng Nhà nước về KH&CN đợt 2) và công trình “Lịch sử và văn hóa Việt Nam - Tiếp cận bộ phận” (được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN đợt 5).

“Tìm về cội nguồn” là kết quả nghiên cứu cùng những phát hiện tư liệu và những tìm tòi, khám phá về lịch sử trung đại Việt Nam của tác giả. Công trình này góp phần nâng cao hiểu biết khoa học về lịch sử dân tộc, đã được sử dụng trong biên soạn giáo trình, chuyên đề giảng dạy đại học, sau đại học và trong biên soạn sách giáo khoa phổ thông cũng như các loại sách phổ cập tri thức sử học cho nhân dân, đóng góp tích cực trong giáo dục truyền thống dân tộc, nâng cao nhận thức về những đặc điểm và quy luật vận động của xã hội và dân tộc Việt Nam.

Theo đánh giá của nhiều giáo sư sử học Việt Nam, công trình “Lịch sử và văn hóa Việt Nam - Tiếp cận bộ phận” đã tạo ra bước đột phá về lý luận và phương pháp trong nhận thức lịch sử và văn hóa Việt Nam. Công trình có ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn lớn: Truyền bá và giáo dục về truyền thống lịch sử văn hóa cho nhiều tầng lớp trong xã hội; cung cấp nhiều luận cứ khoa học cho quá trình hoạch định chính sách phát triển văn hóa, giáo dục và xã hội của Đảng và Nhà nước; góp phần đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch về chủ quyền của Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ; là chuẩn mực trong việc nghiên cứu, biên soạn tài liệu, sách giáo khoa, giáo trình về lịch sử và văn hóa, được dùng làm tài liệu tham khảo không thể thiếu trong nghiên cứu và đào tạo đại học, sau đại học ngành lịch sử và văn hóa Việt Nam ở trong và ngoài nước.

PGS Tôn Thất Bách (tuổi Bính Tuất)

TonThatBach

PGS.VS Tôn Thất Bách sinh năm 1946 tại Hà Nội, mất năm 2004. Ông là chuyên gia đầu ngành về tim mạch của Việt Nam và thế giới. Ông từng giữ các chức vụ: Giám đốc Bệnh viện Việt - Đức, Hiệu trưởng Trường Đại học Y Hà Nội, đại biểu Quốc hội các khoá IX, X và XI, Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội (khoá XI). Ông là con của GS Tôn Thất Tùng - tác giả của "Phương pháp cắt gan khô Tôn Thất Tùng" nổi tiếng thế giới.

PGS.VS Tôn Thất Bách đã kế thừa và phát triển xuất sắc các thành tựu về phẫu thuật gan, mật và tim mà người thầy đồng thời cũng là cha của ông để lại. Bằng "đôi tay vàng" của mình, ông đã cứu sống nhiều bệnh nhân, đúc rút được nhiều kinh nghiệm phẫu thuật để phát triển lớn mạnh ngành phẫu thuật gan, mật và tim của Việt Nam. Ông đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng Trường Đại học Y Hà Nội trở thành một trung tâm đầu ngành về đào tạo bác sỹ trình độ cao của Việt Nam. Khi là Hiệu trưởng, ông đã có đóng góp lớn cho sự khởi sắc và phát triển nhiều mặt của nhà trường, như: Hoàn thiện thêm các điều kiện đào tạo bác sỹ cộng đồng (xây dựng thực địa), triển khai bước đầu phương pháp dạy - học tích cực, hoàn chỉnh và cụ thể hoá thêm mục tiêu đào tạo đại học (ra "sách xanh"), đưa quy mô đào tạo sau đại học lên ngang hoặc hơn quy mô đào tạo đại học để tiếp tục phát huy vai trò trường trọng điểm, xây dựng thành công phòng thí nghiệm trung tâm, đồng thời mở rộng quan hệ hợp tác và đối ngoại lên một cấp độ mới, thành lập mới nhiều đơn vị (khoa, bộ môn, trung tâm...). Người dân Việt Nam biết tới ông không chỉ bởi danh tiếng và tài năng mà còn là một tấm gương sáng về y đức. Khi làm Giám đốc Bệnh viện Việt - Đức, ông đã rất trăn trở với những người bệnh nghèo và tìm mọi cách giúp đỡ họ vượt qua cơn khó khăn của bệnh tật.

GS Nguyễn Hữu Đức (tuổi Mậu Tuất)

NguyenHuuDuc

GS.TS Nguyễn Hữu Đức sinh năm 1958; quê quán: Thanh Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình. Ông học ngành vật lý tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội), là TS ngành vật lý tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1988, lấy Bằng Diplôme d’Habilitation tại Trường Đại học Joseph Fourier Grenoble (Cộng hòa Pháp) năm 1997. Ông được phong PGS năm 2003, GS năm 2004 (GS trẻ nhất năm 2004), danh hiệu Nhà giáo ưu tú năm 2008, Nhà giáo nhân dân năm 2017. Hiện ông là Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội.

GS.TS Nguyễn Hữu Đức đã có gần 40 năm kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu ở trong và ngoài nước về các lĩnh vực: Vật lý, khoa học vật liệu, KH&CN nano. Đến nay, ông đã công bố hơn 100 bài báo khoa học trên các tạp chí uy tín ở trong và ngoài nước; chủ biên và đồng tác giả của 10 cuốn sách, trong đó có 5 cuốn do Nhà xuất bản Elsevier xuất bản. Các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học của ông được các nhà khoa học quốc tế đánh giá cao và trích dẫn hơn 1.000 lần để biện chứng cho đề tài khoa học của họ. Ông cũng thường xuyên được mời đi thỉnh giảng và thuyết trình khoa học tại các trường đại học của Hà Lan, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc...

GS Lê Thị Thanh Nhàn (tuổi Canh Tuất)

GS.TS Lê Thị Thanh Nhàn sinh năm 1970 tại Thừa Thiên - Huế nhưng lớn lên ở tỉnh Thái Nguyên. Bà tốt nghiệp đại học năm 1990, TS toán học năm 2001 và hiện là Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học thuộc Đại học Thái Nguyên.

Năm 2005, bà trở thành nữ PGS toán học trẻ nhất ở Việt Nam. Năm 2009, bà được bổ nhiệm làm Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học thuộc Đại học Thái Nguyên. Năm 2015, bà được phong hàm GS và trở thành nữ GS toán học thứ hai ở Việt Nam, sau GS Hoàng Xuân Sính.

GS.TS Lê Thị Thanh Nhàn đã công bố 16 công trình trên những tạp chí toán quốc tế uy tín được ISI xếp hạng, 5 công trình trên Journal of Algebra - tạp chí quốc tế uy tín thuộc chuyên ngành đại số, tham gia giảng dạy tại nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới. Với những thành tích xuất sắc, năm 2007, bà nhận Giải thưởng Khoa học của Viện Toán học Việt Nam - một giải thưởng khoa học uy tín được trao 2 năm 1 lần cho hai nhà toán học Việt Nam dưới 40 tuổi. Năm 2011, GS.TS Lê Thị Thanh Nhàn là 1 trong 2 người đã đoạt được giải Kovalevskaya - giải thưởng hàng năm vinh danh các nhà khoa học nữ có thành tựu xuất sắc và có nhiều đóng góp cho khoa học thuộc lĩnh vực tự nhiên.

PGS Phạm Văn Phúc (tuổi Nhâm Tuất)

PGS.TS Phạm Văn Phúc sinh năm 1982, hiện là Phó Trưởng phòng Phòng thí nghiệm tế bào gốc thuộc Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh; sáng lập và là tổng biên tập Tạp chí Biomedical Research and Therapy, Tạp chí Progress in Stem Cell; Tổng biên tập Seri sách chuyên khảo: Stem Cells in Clinical Application do Nhà xuất bản Springer xuất bản và phát hành; thành viên Hội đồng biên tập các Tạp chí: World Journal of Clinical Oncology, Research Opinions in Animal & Veterinary Sciences (ROAVS); Phó Chủ tịch Hội Tế bào gốc TP Hồ Chí Minh. PGS.TS Phạm Văn Phúc tốt nghiệp đại học ngành công nghệ sinh học năm 2005, là TS ngành sinh lý người và động vật năm 2012, được phong PGS năm 2016.

PGS.TS Phạm Văn Phúc theo đuổi 2 hướng nghiên cứu chính là: 1) Ứng dụng công nghệ tế bào gốc trong tái tạo một số mô thoái hóa (như xương, sụn), chế tạo mỹ phẩm, điều trị thần kinh; 2) Ứng dụng công nghệ tế bào, tế bào gốc trong điều trị các bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư vú và gan. Trong 5 năm trở lại đây, PGS.TS Phạm Văn Phúc đã chủ nhiệm, tham gia 14 đề tài nghiên cứu các cấp; tác giả và đồng tác giả của 42 bài báo khoa học, trong đó có 24 bài báo thuộc danh sách SIC, SICE; chủ biên và đồng tác giả của 18 đầu sách chuyên khảo, trong đó có 15 đầu sách được các nhà xuất bản danh tiếng trên thế giới phát hành.

 

 

 

 

Hình ảnh hoạt động

Liên kết website

logo petech