106 câu hỏi đáp về Nghị định 115

Email In PDF

Câu 1: Đối tượng áp dụng của Nghị định 115?

Trả lời: Khoản 1, Mục I Thông tư 12 quy định đối tượng áp dụng của Nghị định 115 là các tổ chức KH&CN sau:

- Tổ chức nghiên cứu khoa học;

- Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ;

- Tổ chức dịch vụ KH&CN,

Do cơ quản quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập, được tổ chức dưới các hình thức: Viện, trung tâm, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm, cơ sở nghiên cứu và phát triển khác thuộc Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Đại học, trường đại học, học viện, trường cao đẳng và các Tổng công ty nhà nước.

Câu 2: Khi nào tổ chức KH&CN đủ điều kiện áp dụng của Nghị định 115? Tổ chức KH&CN được thành lập nhưng chưa đăng ký hoạt động KH&CN có bắt buộc chuyển đổi theo quy định của Nghị định 115 không? Nếu có nhu cầu chuyển đổi theo Nghị định 115 thì phải làm thủ tục gì?

Trả lời: - Tổ chức KH&CN đáp ứng đủ các điều kiện sau là đối tượng áp dụng bắt buộc của Nghị định 115:

l Do cơ quản quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập;

l Có đăng ký hoạt động KH&CN tại Bộ KH&CN hoặc Sở KH&CN địa phương;

l Có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng.

- Tổ chức KH&CN được thành lập nhưng không đăng ký hoạt động KH&CN không thuộc diện bắt buộc chuyển đổi theo quy định của Nghị định 115, nhưng nếu có nhu cầu thì được đăng ký hoạt động KH&CN bổ sung tại Bộ KH&CN hoặc Sở KH&CN của địa phương, sau đó xây dựng Đề án chuyển đổi theo hướng dẫn tại Nghị định 115, Thông tư 12 và trình các cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt.

Câu 3: Tổ chức KH&CN có thể chuyển đổi tổ chức và hoạt động theo quy định của Nghị định 43 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập không?

Trả lời: Tổ chức KH&CN là đối tượng áp dụng Nghị định 115 và nếu có đủ các điều kiện áp dụng Nghị định 115 thì không được chuyển đổi tổ chức và hoạt động theo quy định của Nghị định 43 với lý do: Khoản 3, Điều 1, Nghị định 43 đã quy định: “Các tổ chức KH&CN thực hiện theo quy định tại Nghị định 115”. Trường hợp tổ chức KH&CN không có đủ điều kiện áp dụng Nghị định 115 (ví dụ không đăng ký hoạt động KH&CN, không phải do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thành lập…) có thể hoạt động theo quy định của Nghị định 43.

Câu 4: Những thuận lợi của tổ chức KH&CN khi áp dụng Nghị định 115?

Trả lời: Khi áp dụng Nghị định 115, tổ chức KH&CN có những thuận lợi sau:

- Được giao tài sản, kể cả giá trị quyền sử dụng đất;

- Được tự chủ toàn diện về tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính;

- Được chủ động nâng lương cho cán bộ viên chức đúng hạn, trước thời hạn và vượt bậc trong cùng ngạch; được quyền tuyển dụng và bổ nhiệm ngạch cho viên chức, giải quyết mọi chế độ cho viên chức theo quy định của pháp luật;

- Được hỗ trợ đầu tư phát triển khi tăng trưởng tốt, khi chuyển đổi sớm và có dự án khả thi;

- Không giới hạn thu nhập, quỹ lương được tính vào chi phí hợp lý trước thuế;

- Riêng tổ chức KH&CN chuyển đổi thành tổ chức tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên được quyền sản xuất kinh doanh và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh như doanh nghiệp, được hưởng các quyền lợi khác của doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp (ví dụ xuất nhập khẩu trực tiếp, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp như doanh nghiệp mới thành lập…).

Câu 5: Làm thế nào để biết tổ chức KH&CN là tổ chức nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách phục vụ quản lý nhà nước quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định 115?

Trả lời: Theo Quyết định số 08/2007/QĐ-BKHCN, tổ chức KH&CN có các điều kiện sau đây sẽ thuộc đối tượng nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước:

Trong Quyết định thành lập hoặc Điều lệ Tổ chức và Hoạt động hoặc đăng ký hoạt động KH&CN có ghi một trong bốn chức năng sau:

l Nghiên cứu cơ bản;

l Nghiên cứu chiến lược, chính sách;

l Nghiên cứu xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật;

l Nghiên cứu khoa học phục vụ các dịch vụ công ích.

Đã đăng ký hoạt động KH&CN tại Bộ KH&CN hoặc Sở KH&CN ở địa phương (trường hợp tổ chức nào chưa đăng ký hoạt động KH&CN mà có nhu cầu chuyển đổi theo quy định của Nghị định 115 thì được đăng ký bổ sung).

Trong 3 năm gần đây, nguồn thu của tổ chức KH&CN chủ yếu (trên 70%) do ngân sách nhà nước cấp (bao gồm kinh phí hoạt động thường xuyên, kinh phí đề tài, dự án nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách, xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật, thực hiện dịch vụ công ích...). Số lượng cán bộ làm công tác nghiên cứu có trình độ đại học, trên đại học chiếm trên 70% tổng số cán bộ, viên chức hiện có.

Trong 3 năm gần đây, ít nhất 30% số cán bộ nghiên cứu (mã ngạch nghiên cứu viên, kỹ sư) có kết quả nghiên cứu được công nhận (được phê duyệt, nghiệm thu hoặc công bố trên các tạp chí...) trong các lĩnh vực: Nghiên cứu cơ bản; nghiên cứu chiến lược, chính sách; nghiên cứu xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật và phục vụ các dịch vụ công ích.   

Câu 6: Có bao nhiêu hình thức chuyển đổi các tổ chức KH&CN theo quy định của Nghị định 115?

Trả lời: Tại Điều 4, Nghị định 115 quy định rõ:

1. Tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách, phục vụ quản lý nhà nước được Nhà nước đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên theo phương thức khoán;

2. Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ KH&CN tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên được lựa chọn việc chuyển đổi theo các hình thức sau:

l Tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên.

l Doanh nghiệp KH&CN.

Các tổ chức KH&CN nếu không xây dựng Đề án chuyển đổi thành một trong 2 hình thức nói trên, hoặc đã có Đề án nhưng không được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đúng hạn thì phải xây dựng phương án để sáp nhập hoặc giải thể theo hướng dẫn của Thông tư 12. Tổ chức KH&CN đã có đề án chuyển đổi được phê duyệt, nhưng đến năm 2010 không tự đảm bảo được kinh phí hoạt động thường xuyên thì cũng phải sáp nhập hoặc giải thể.

Câu 7: Tổ chức KH&CN muốn chuyển đổi thành doanh nghiệp KH&CN thì cần làm những thủ tục gì?

Trả lời: Tại Khoản 2, Điều 5, Nghị định 80, thủ tục chuyển đổi tổ chức KH&CN công lập thành doanh nghiệp KH&CN quy định: tổ chức KH&CN phải tự đánh giá xem có phải là đối tượng để chuyển đổi thành doanh nghiệp KH&CN quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 80 hay không, và việc chuyển đổi được thực hiện theo trình tự sau đây:

i) Xây dựng Đề án chuyển đổi tổ chức và hoạt động để thành lập doanh nghiệp KH&CN, trình cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

ii) Lập hồ sơ đăng ký kinh doanh và đăng ký kinh doanh theo quy định tại Luật Doanh nghiệp;

iii) Lập hồ sơ đăng ký chứng nhận doanh nghiệp KH&CN trình Sở KH&CN địa phương, nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính để được xem xét, cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN.

Câu 8: Tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách phục vụ quản lý nhà nước có một bộ phận có nhu cầu sản xuất kinh doanh muốn chuyển đổi thành đơn vị tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên thì phải tiến hành những thủ tục gì?

Trả lời: Tại Khoản 6, Mục I, Thông tư 12, tổ chức KH&CN hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước nếu có một bộ phận có nhu cầu sản xuất kinh doanh thì:

- Thủ trưởng tổ chức KH&CN ra quyết định tách bộ phận đó thành một đơn vị sản xuất kinh doanh độc lập, trực thuộc tổ chức KH&CN;

- Khi xây dựng đề án kiện toàn tổ chức và hoạt động của tổ chức KH&CN phải có phương án thành lập đơn vị có hoạt động sản xuất kinh doanh trực thuộc và đơn vị này phải tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên;

- Nhà nước giao tài sản cho tổ chức KH&CN. Việc giao quyền sử dụng hoặc giao lại tài sản cho đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc thẩm quyền của tổ chức KH&CN, tài sản được giao để sản xuất kinh doanh phải trích khấu hao như doanh nghiệp nhà nước. Thủ trưởng tổ chức KH&CN cũng có quyền điều động nhân sự, bổ nhiệm và ký hợp đồng làm việc với lãnh đạo đơn vị sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, tổ chức KH&CN cũng có quyền thỏa thuận với đơn vị sản xuất kinh doanh trực thuộc về nghĩa vụ của đơn vị sản xuất kinh doanh trích lợi nhuận vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ phúc lợi của tổ chức KH&CN, thỏa thuận này được quy định trong Điều lệ tổ chức và hoạt động của đơn vị sản xuất kinh doanh do Thủ trưởng tổ chức KH&CN phê duyệt.

Câu 9: Tổ chức KH&CN có nhiều đơn vị trực thuộc có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, thuộc các lĩnh vực sự nghiệp khác nhau thì mô hình chuyển đổi như thế nào? Ví dụ: Trong một tổ chức KH&CN có thể có các đơn vị tự trang trải kinh phí, các đơn vị sự nghiệp chuyển đổi theo Nghị định 43, các đơn vị nghiên cứu cơ bản, các doanh nghiệp KH&CN hay không?

Trả lời: Tổ chức KH&CN có nhiều đơn vị trực thuộc có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, thuộc các lĩnh vực sự nghiệp khác nhau sẽ thực hiện các bước triển khai như sau:

- Tổ chức KH&CN xác định đối tượng chuyển đổi đối với các đơn vị trực thuộc với hình thức hoạt động theo Nghị định 43, Nghị định 80 hoặc Nghị định 115;

- Các đơn vị trực thuộc tổ chức KH&CN xây dựng đề án chuyển đổi trình cơ quan chủ quản xem xét, tổng hợp và trình cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

- Tổ chức KH&CN làm Đề án chuyển đổi theo Nghị định 115 trên cơ sở các đề án của các đơn vị trực thuộc.

Trong một tổ chức KH&CN chuyển đổi theo Nghị định 115 có thể có các đơn vị trực thuộc hoạt động theo các hình thức khác nhau như: Tổ chức tự trang trải kinh phí hoạt động theo Nghị định 115; tổ chức sự nghiệp (báo chí, đào tạo, y tế, văn hóa...) hoạt động theo Nghị định 43; tổ chức nghiên cứu cơ bản được ngân sách cấp kinh phí hoạt động thường xuyên hoạt động theo Nghị định 115, và doanh nghiệp KH&CN hoạt động theo Nghị định 80.

Câu 10: Tổ chức KH&CN mới thành lập sau ngày Nghị định 115 có hiệu lực thi hành có được chuyển đổi theo Nghị định 115 không? Thủ tục?

Trả lời: Tổ chức KH&CN được thành lập sau ngày Nghị định 115 có hiệu lực thi hành phải thực hiện chuyển đổi ngay theo quy định của Nghị định 115;

Về thủ tục: Ngay sau khi có quyết định thành lập của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, tổ chức KH&CN đăng ký hoạt động KH&CN (tại Bộ KH&CN hoặc Sở KH&CN), xây dựng Đề án hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của Nghị định 115 trình cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, trong đó đặc biệt chú ý phương án tự chủ kinh phí hoạt động thường xuyên theo phương thức khoán (nếu là tổ chức nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách phục vụ quản lý nhà nước), hoặc phương án tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên và phương án sản xuất kinh doanh (nếu là tổ chức nghiên cứu và phát triển, tổ chức dịch vụ KH&CN).

Câu 11: Tổ chức KH&CN có bắt buộc phải chuyển đổi thành tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí không? Tổ chức KH&CN có bắt buộc phải chuyển đổi thành doanh nghiệp KH&CN không?

Trả lời: Tổ chức KH&CN không bắt buộc phải chuyển đổi thành tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí hoặc doanh nghiệp KH&CN. Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 115 và Quyết định số 08, tổ chức KH&CN có thể lựa chọn:

- Tổ chức KH&CN đáp ứng đủ theo các tiêu chí tại Quyết định 08 là tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách phục vụ quản lý nhà nước vẫn được Nhà nước cấp kinh phí hoạt động thường xuyên theo phương thức khoán;

- Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ KH&CN được lựa chọn:

- Tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí;

- Doanh nghiệp KH&CN (đa sở hữu).

Câu12: Tự trang trải kinh phí theo quy định của Nghị định 115 được hiểu thế nào?

Trả lời: Thuật ngữ “tự trang trải kinh phí” theo quy định của Nghị định 115 được hiểu là “tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên”. Nghĩa là tổ chức KH&CN chuyển đổi sang cơ chế tự trang trải kinh phí chỉ phải tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên, bao gồm:

- Các khoản chi cho con người, gồm: Tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp; các khoản trích nộp theo lương;

- Các khoản chi hoạt động bộ máy của tổ chức KH&CN (bao gồm: Chi phí điện nước, điện thoại, xăng xe, công tác phí, sửa chữa nhỏ, chống xuống cấp...);

- Chi nhiệm vụ KH&CN cấp cơ sở.

Các khoản kinh phí khác như: Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ (do Nhà nước đặt hàng hoặc thông qua tuyển chọn như đề tài, đề án, dự án sản xuất thử nghiệm...), kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ nghiên cứu và phát triển công nghệ, kinh phí đầu tư phát triển... vẫn được Nhà nước tiếp tục đầu tư (kể cả sau năm 2009) nếu tổ chức KH&CN có dự án khả thi và đủ năng lực thực hiện.

Xin lưu ý: Trong giai đoạn chuẩn bị chuyển đổi, tổ chức KH&CN có đề án chuyển đổi thành tổ chức tự trang trải kinh phí đã được phê duyệt vẫn được Nhà nước cấp kinh phí hoạt động thường xuyên đến hết năm 2009 với mức không thấp hơn năm 2005.

Câu 13: Vì sao phải thay đổi phương thức cấp kinh phí hoạt động thường xuyên?

Trả lời: Việc thay đổi phương thức cấp kinh phí từ phương thức cấp theo biên chế sang phương thức cấp theo nhiệm vụ để:

- Tạo điều kiện cho tổ chức KH&CN thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tuyển dụng và quản lý cán bộ, viên chức; chủ động trong việc sử dụng kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng nhiệm vụ nhằm đạt hiệu quả cao nhất;

- Tạo điều kiện cho Thủ trưởng tổ chức KH&CN thực hiện quyền chủ động một cách dân chủ về nhân sự, tài chính, nâng cao hiệu lực quản lý, đảm bảo cơ chế thu nhập theo hiệu quả công việc, nâng cao thu nhập cho cán bộ viên chức và chất lượng sản phẩm khoa học, khắc phục tư tưởng ỷ lại, trì trệ của cơ chế bao cấp;

- Tổ chức KH&CN được quyền quyết định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn quy định của Nhà nước trong phạm vi kinh phí được giao, theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị (riêng tiền lương không được chi thấp hơn mức lương cơ bản theo ngạch bậc của Nhà nước).

Câu 14: Thế nào là phương thức cấp kinh phí hoạt động thường xuyên theo biên chế?

Trả lời: - Phương thức cấp kinh phí hoạt động thường xuyên theo biên chế là phương thức cấp kinh phí cố định theo định mức cho 01 biên chế.

- Kinh phí hoạt động thường xuyên của đơn vị = số biên chế x định mức/1 biên chế.

- Việc cấp kinh phí định mức cho 01 biên chế trong các đơn vị sự nghiệp không vượt quá mức cấp cho biên chế trong đơn vị hành chính. Theo Quyết định số 151/2006/QĐ-TTg ngày 29/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước năm 2007, định mức phân bổ dự toán chi quản lý hành chính nhà nước, Đảng, đoàn thể đối với các bộ, cơ quan Trung ương (không phải ngành dọc) có trên 500 biên chế là 37 triệu đồng/biên chế/năm; dưới 101 biên chế là 42,9 triệu đồng/biên chế/năm…

Theo quy định, từ năm 2003 không còn chế độ giao biên chế cho các đơn vị sự nghiệp, vì vậy trong mấy năm qua các bộ/ngành, địa phương duy trì cấp kinh phí hoạt động thường xuyên cho các đơn vị sự nghiệp căn cứ vào số biên chế được giao trước năm 2003.

Câu 15: Thế nào là phương thức cấp kinh phí theo nhiệm vụ?

Trả lời: Phương thức cấp kinh phí theo nhiệm vụ của tổ chức KH&CN là Nhà nước căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, căn cứ vào nhu cầu phát triển của tổ chức KH&CN để cấp kinh phí, không phụ thuộc vào số lượng biên chế của tổ chức KH&CN. Tổ chức KH&CN có thể được cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước theo 02 loại nhiệm vụ:

- Nhiệm vụ theo chức năng được ghi trong điều lệ tổ chức và hoạt động của đơn vị đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

- Nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng hoặc nhiệm vụ KH&CN do tổ chức KH&CN tự đề xuất phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội thuộc lĩnh vực hoạt động của tổ chức KH&CN;

Căn cứ theo yêu cầu của các nhiệm vụ nói trên, hàng năm tổ chức KH&CN chủ động xây dựng kế hoạch và dự toán trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, và tổ chức thực hiện theo quy định cho từng nhiệm vụ cụ thể.     

Riêng tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách phục vụ quản lý nhà nước (đối tượng thuộc khoản 3 Điều 4 Nghị định 115) dự toán kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại khoản 2, Mục VI, Thông tư 12.

Ngoài ra, tổ chức KH&CN có thể nhận được kinh phí từ ngân sách nhà nước thông qua các nhiệm vụ KH&CN các cấp (đề tài, dự án cấp nhà nước, cấp bộ) theo hình thức tuyển chọn hoặc giao trực tiếp và thực hiện các dự án đầu tư phát triển được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Câu 16: Các loại nhiệm vụ của tổ chức KH&CN?

Trả lời: Theo quy định tại Khoản 1, Mục II, Thông tư 12, tổ chức KH&CN có 04 loại nhiệm vụ sau đây:

- Nhiệm vụ KH&CN thông qua tuyển chọn, đấu thầu;

- Nhiệm vụ do các cơ quan nhà nước giao hoặc đặt hàng trực tiếp (kể cả nhiệm vụ do tổ chức KH&CN tự đề xuất và được cấp có thẩm quyền chấp nhận);

- Nhiệm vụ do các tổ chức, cá nhân đặt hàng theo hợp đồng;

- Nhiệm vụ được giao theo chức năng của các tổ chức nghiên cứu khoa học (chỉ áp dụng đối với các tổ chức nghiên cứu khoa học thuộc đối tượng áp dụng quy định tại Khoản 3, Điều 4, Nghị định 115; hoặc các tổ chức nghiên cứu và phát triển được giao nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách, xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật và phục vụ dịch vụ công ích của Nhà nước).

Câu 17: Tổ chức KH&CN chuyển đổi sang loại hình tự trang trải kinh phí có được cấp kinh phí hoạt động thường xuyên nữa không? Nếu được cấp thì theo phương thức nào? Thời gian được cấp là bao nhiêu?

Trả lời: - Tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí trong thời gian chuẩn bị chuyển đổi (từ khi có Đề án chuyển đổi được phê duyệt đến khi có quyết định cho phép chuyển đổi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) tiếp tục được Nhà nước cấp kinh phí hoạt động thường xuyên đến thời điểm chuyển đổi theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tối đa đến 31/12/2009.

- Phương thức cấp kinh phí hoạt động thường xuyên theo phương thức cũ và không thấp hơn mức của năm 2005, có bổ sung khi có biến động về mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định hoặc lạm phát, tăng giá.

- Tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí nếu có một số chức năng nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách, xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật hoặc được giao làm dịch vụ công ích phục vụ quản lý nhà nước vẫn được ngân sách nhà nước cấp kinh phí cho các nhiệm vụ nói trên, kể cả sau năm 2009.

- Tổ chức KH&CN chuyển đổi sang tự trang trải kinh phí sớm trước hạn 31/12/2009 được Nhà nước cấp hỗ trợ một lần ít nhất 50% tổng số kinh phí hoạt động thường xuyên của các năm còn lại để đầu tư phát triển.     

Câu 18: Thời điểm chuyển đổi sang hình thức tự trang trải kinh phí của tổ chức KH&CN được hiểu như thế nào?

Trả lời: - Thời điểm chuyển đổi của tổ chức KH&CN được ghi trong quyết định cho phép chuyển đổi của tổ chức KH&CN do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, có thể chậm hơn thời gian phê duyệt đề án chuyển đổi nhưng không chậm hơn 31/12/2009.

- Trường hợp quyết định phê duyệt đề án chuyển đổi đồng thời cũng là quyết định cho phép chuyển đổi thì thời điểm chuyển đổi được tính là thời điểm ghi trong quyết định phê duyệt đề án.

- Trường hợp tổ chức KH&CN đã dự kiến thời điểm chuyển đổi trong đề án được phê duyệt, nhưng trong quá trình hoạt động đến năm 2009 có nhu cầu thay đổi thì thời điểm chuyển đổi vẫn có thể điều chỉnh cho phù hợp.

Câu 19: Tổ chức KH&CN có phải tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên ngay sau khi được phê duyệt Đề án chuyển đổi thành tổ chức tự trang trải kinh phí hay không? Khi nào mới bị cắt kinh phí hoạt động thường xuyên?

Trả lời: Theo quy định tại Khoản 1, Mục III, Thông tư 12, tổ chức KH&CN sau khi được phê duyệt Đề án chuyển đổi vẫn được ngân sách nhà nước tiếp tục bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên cho đến khi có quyết định cho phép chuyển đổi thành tổ chức tự trang trải kinh phí của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, chậm nhất là đến hết năm 2009.

Từ năm 2010, các tổ chức KH&CN chuyển đổi sang hình thức tự trang trải kinh phí đều phải tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên.

Câu 20: Tổ chức KH&CN chuyển đổi sớm trước hạn quy định được hiểu như thế nào? Được hưởng quyền lợi gì khi chuyển đổi sớm?

Trả lời: - Tổ chức KH&CN chuyển đổi sớm trước hạn quy định được hiểu là tổ chức được cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển đổi sang loại hình tự trang trải kinh phí trước năm 2009 (Theo quy định tại Khoản 5, Mục VIII, Thông tư 12: Khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển đổi trước năm 2009 được xem là chuyển đổi sớm).

- Khi chuyển đổi sớm, tổ chức KH&CN được Nhà nước hỗ trợ kinh phí 1 lần với mức ít nhất bằng 50% tổng kinh phí hoạt động thường xuyên của những năm còn lại để đầu tư phát triển.

- Mức hỗ trợ chuyển đổi sớm, (từ 50% đến 100%) tuỳ theo cơ quan có thẩm quyền quyết định và phải được đưa vào kế hoạch dự toán hàng năm.

Câu 21: Tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách sau khi được chuyển đổi có được cấp kinh phí hoạt động thường xuyên nữa hay không? Nếu được cấp thì theo phương thức nào? Thời hạn được cấp bao lâu?

Trả lời: - Theo quy định tại Khoản 3, Điều 4 Nghị định 115, tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách sau khi được phê duyệt Đề án kiện toàn tổ chức nâng cao hiệu quả hoạt động sẽ được Nhà nước tiếp tục cấp kinh phí hoạt động thường xuyên, kể cả sau năm 2009.

- Tại Mục VI, Thông tư 12, kinh phí hoạt động thường xuyên được cấp cho tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách phục vụ quản lý nhà nước theo phương thức khoán tương ứng với chức năng nhiệm vụ thường xuyên được giao, không theo số lượng biên chế.

- Các tổ chức KH&CN thuộc khoản 3 Điều 4 Nghị định 115 được Nhà nước đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên lâu dài.

Câu 22: Phương thức khoán kinh phí hoạt động thường xuyên của tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước được hiểu như thế nào?

Trả lời: - Nhà nước không cấp kinh phí hoạt động thường xuyên theo biên chế mà khoán kinh phí hoạt động thường xuyên cho tổ chức KH&CN căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao;

- Mức khoán kinh phí hoạt động thường xuyên cho tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước do cơ quan có thẩm quyền quyết định và không thấp hơn mức kinh phí hoạt động thường xuyên được giao năm 2005, có điều chỉnh, bổ sung khi có biến động về tiền lương tối thiểu hoặc lạm phát;

- Tổ chức KH&CN được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng kinh phí trong phạm vi kinh phí được giao: Được chủ động trong thủ tục chi, điều chỉnh nội dung chi và quy định định mức chi theo quy định tại mục VI Thông tư 12, được sử dụng kinh phí tiết kiệm để tăng thu nhập cho cán bộ, viên chức.

Câu 23: Có được dự toán tiền lương của cán bộ viên chức trong dự toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ KH&CN trong giai đoạn chuẩn bị chuyển đổi không?

Trả lời: - Trong giai đoạn chuẩn bị chuyển đổi, tổ chức KH&CN vẫn được cấp kinh phí hoạt động thường xuyên như trước đây, tức là vẫn được cấp kinh phí để trả lương cho cán bộ viên chức. Do cán bộ viên chức đã được trả lương bằng kinh phí hoạt động thường xuyên nên tổ chức KH&CN chưa được dự toán tiền lương vào dự toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ KH&CN.

- Trong giai đoạn hiện nay, kinh phí thực hiện nhiệm vụ KH&CN do Nhà nước giao cho tổ chức KH&CN cũng chưa bao gồm tiền lương của cán bộ viên chức. Đến năm 2010 khi không còn duy trì chế độ cấp kinh phí hoạt động thường xuyên theo biên chế, Bộ KH&CN sẽ phối hợp với các bộ/ngành liên quan ban hành văn bản hướng dẫn lập dự toán tiền lương vào kinh phí thực hiện nhiệm vụ của tổ chức KH&CN.

Câu 24: Tổ chức KH&CN chuyển đổi theo Nghị định 115 xây dựng quỹ lương có bị giới hạn mức lương tối đa của viên chức như quy định của Nghị định 43 không?

Trả lời: - Theo quy định tại điểm a, khoản 2, Mục IV, Thông tư 12, tổ chức KH&CN xây dựng quỹ lương không bị giới hạn mức tối đa như quy định của Nghị định 43.       

- Tổ chức KH&CN được quyền ký hợp đồng với viên chức với mức lương thực tế cao hơn quy định của Nhà nước tùy thuộc vào kết quả hoạt động tài chính của đơn vị, và tiền lương chính thức trong hợp đồng được tính vào chi phí hợp lý trước thuế.

Câu 25: Thế nào là tiền lương thực tế, thu nhập tăng thêm của viên chức? Tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm của cán bộ, viên chức được chi trả như thế nào? Có phải chịu thuế thu nhập cá nhân không?

Trả lời: - Tiền lương thực tế là tiền lương được ghi trong hợp đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động của thủ trưởng tổ chức KH&CN ký với cán bộ, viên chức trong đơn vị, tối thiểu bằng mức lương cơ bản theo quy định của Nhà nước về ngạch lương, bậc lương và phụ cấp chức vụ. Tùy theo kết quả hoạt động tài chính của đơn vị, tiền lương thực tế có thể cao hơn mức lương quy định của Nhà nước, không giới hạn mức tối đa.

- Thu nhập tăng thêm là khoản thu nhập từ lợi nhuận sau thuế (dựa trên cơ sở chênh lệch thu chi của tổ chức KH&CN sau khi đã nộp thuế và nghĩa vụ vào ngân sách, trích các quỹ theo quy định) và được phân phối theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.

- Tiền công được trả theo công việc cụ thể, theo thoả thuận.

- Tuỳ thuộc vào tổng thu nhập (bao gồm cả tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm), cán bộ, viên chức phải chịu thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật.

Câu 26: Trong 4 loại quỹ của tổ chức KH&CN, loại quỹ nào bắt buộc phải trích lập, mức trích lập?

Trả lời: Trong 4 loại quỹ:

- Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp bắt buộc phải trích lập để tái đầu tư, tối thiểu là 30% tổng số tiền chênh lệch thu lớn hơn chi;

- Quỹ dự phòng ổn định thu nhập trích tự nguyện, mức trích lập theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị;

- Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi trích tự nguyện, mức trích lập theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị nhưng không quá 03 tháng quỹ lương của đơn vị. 

Câu 27: Vì sao tổ chức KH&CN phải trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp?

Trả lời: Tổ chức KH&CN phải trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp dùng để tái đầu tư phát triển đơn vị, tránh tình trạng chỉ quan tâm đến thu nhập của cán bộ viên chức mà không dành một phần lợi nhuận để đầu tư phát triển, cụ thể nội dung chi của Quỹ bao gồm:

- Đầu tư phát triển nâng cao hoạt động sự nghiệp, bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm máy móc, trang thiết bị, phương tiện làm việc;

- Chi nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật;

- Đầu tư liên doanh, liên kết;

- Trợ giúp hoạt động đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực.

Câu 28: Vì sao tổ chức KH&CN nên trích lập Quỹ dự phòng ổn định thu nhập? Nội dung chi của Quỹ dự phòng ổn định thu nhập?

Trả lời: Tại điểm b, khoản 3, mục IV, tổ chức KH&CN cần trích lập Quỹ dự phòng ổn định thu nhập để dự phòng bù đắp thu nhập cho cán bộ viên chức.

Quỹ dự phòng ổn định thu nhập được chi trong các trường hợp: Khi nguồn thu của đơn vị bị giảm sút, khi Nhà nước thay đổi chính sách tiền lương, hỗ trợ chế độ thôi việc hoặc tìm việc mới cho người lao động dôi dư.

Câu 29: Các loại quỹ của tổ chức KH&CN được trích lập từ lợi nhuận sau thuế hay lợi nhuận trước thuế?

Trả lời: Các loại quỹ của tổ chức KH&CN được trích lập từ lợi nhuận sau thuế, sau khi trang trải tất cả các khoản chi phí hợp lý, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quy định, phần chênh lệch còn lại tổ chức KH&CN được trích lập các quỹ.

Câu 30: Tại sao các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ KH&CN phải xây dựng Đề án chuyển đổi sang cơ chế tự trang trải kinh phí?

Trả lời: Xây dựng Đề án chuyển đổi sang cơ chế tự trang trải kinh phí nhằm mục đích:

- Xác định rõ thời điểm chuyển đổi và kế hoạch phát triển trong giai đoạn sau chuyển đổi;

- Lộ trình thực hiện và xác định khả năng tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên;

- Có kế hoạch để nhà nước đầu tư về cơ sở vật chất, nhân lực, kinh phí nhằm đảm bảo khả năng chuyển đổi thành công;

- Được Nhà nước chính thức giao tài sản, có thể sử dụng để liên doanh liên kết, sử dụng cho sản xuất kinh doanh, chủ động thanh lý, chuyển nhượng tài sản;

- Được cấp có thẩm quyền chính thức ủy quyền thực hiện quyền tự chủ mọi mặt: Thành lập hoặc giải thể các đơn vị trực thuộc, bổ nhiệm, nâng lương cho cán bộ, cử cán bộ đi nước ngoài, tuyển dụng và ký hợp đồng làm việc, chi tiêu tài chính...

Câu 31: Tại sao các tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phải xây dựng Đề án kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động KH&CN?

Trả lời: Tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách không bắt buộc chuyển đổi thành tổ chức tự trang trải kinh phí, việc xây dựng “Đề án kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động” nhằm mục đích:

- Có kế hoạch để Nhà nước đầu tư về cơ sở vật chất, nhân lực, kinh phí nhằm đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ do Nhà nước giao;

- Được Nhà nước chính thức giao tài sản, có thể sử dụng để liên doanh liên kết, sử dụng cho sản xuất kinh doanh khi có nhu cầu, chủ động thanh lý, chuyển nhượng tài sản;

- Được cấp có thẩm quyền chính thức ủy quyền thực hiện quyền tự chủ mọi mặt  (thành lập hoặc giải thể các đơn vị trực thuộc, bổ nhiệm, nâng lương cho cán bộ, cử cán bộ đi nước ngoài, tuyển dụng và ký hợp đồng làm việc, chi tiêu tài chính...), nâng cao hiệu quả hoạt động;

- Được giao kinh phí hoạt động thường xuyên theo phương thức khoán.

Câu 32: Sự khác nhau giữa hai loại Đề án chuyển đổi sang cơ chế tự trang trải kinh phí và Đề án kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động KH&CN?

Trả lời: Sự khác nhau cơ bản giữa hai loại Đề án này:

- Đề án chuyển đổi thành tổ chức tự trang trải kinh phí: Có phương án sản xuất kinh doanh, thực hiện dịch vụ KH&CN nhằm tăng tài sản cho sản xuất kinh doanh và nghiên cứu khoa học, lộ trình tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên, định hướng phát triển của tổ chức KH&CN.

- Đề án kiện toàn tổ chức nâng cao hiệu quả hoạt động: Xây dựng phương án sử dụng kinh phí hoạt động thường xuyên do ngân sách Nhà nước cấp theo phương thức khoán, phương án cơ cấu lại tổ chức và hoạt động của đơn vị đảm bảo hiệu quả hoạt động KH&CN, đảm bảo thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao, xây dựng đội ngũ cán bộ KH&CN đầu ngành và chuyên sâu.

Câu 33: Đối với tổ chức KH&CN là cơ quan chủ quản của tổ chức KH&CN trực thuộc và đều là đối tượng của Nghị định 115, nguyên tắc xây dựng và phê duyệt Đề án chuyển đổi của tổ chức KH&CN chủ quản (mẹ) và các tổ chức KH&CN trực thuộc (con) như thế nào?

Trả lời: Đối với tổ chức KH&CN là cơ quan chủ quản của các tổ chức KH&CN trực thuộc và đều là đối tượng của Nghị định 115, nguyên tắc xây dựng và phê duyệt Đề án chuyển đổi của tổ chức KH&CN chủ quản (mẹ) và các tổ chức KH&CN trực thuộc (con) được thực hiện như sau:

- Các tổ chức KH&CN trực thuộc (con) xây dựng Đề án chuyển đổi của đơn vị mình theo quy định và trình cơ quan chủ quản (tổ chức mẹ) để tổng hợp và chỉnh sửa cho phù hợp;

- Tổ chức KH&CN chủ quản dựa trên các Đề án chuyển đổi của các tổ chức KH&CN trực thuộc (con), xây dựng Đề án chuyển đổi của tổ chức KH&CN chủ quản (tổ chức mẹ) và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt cùng với Đề án chuyển đổi của các tổ chức KH&CN trực thuộc (con).

- Khi tổ chức KH&CN chủ quản (mẹ) xây dựng đề án chuyển đổi phải quy định rõ quan hệ đối với các tổ chức KH&CN trực thuộc (con) về:

l Hành chính (như bổ nhiệm thủ trưởng tổ chức KH&CN trực thuộc, chế độ báo cáo hàng năm);

l Kế hoạch (hàng năm phải được thông qua cơ quan chủ quản và trình cơ quan có thẩm quyền);

l Tài sản và tài chính (có sự thoả thuận giữa tổ chức KH&CN chủ quản và tổ chức KH&CN trực thuộc, những tài sản có giá trị lớn, phòng thí nghiệm trọng điểm phải xem xét, cân nhắc khi giao tài sản, nghĩa vụ tài chính của tổ chức KH&CN trực thuộc đối với tổ chức mẹ);

l Đề tài, nhiệm vụ lớn nằm trong định hướng phát triển của tổ chức KH&CN chủ quản có thể không giao cho các tổ chức KH&CN trực thuộc;

- Tổ chức KH&CN chủ quản được cơ quan có thẩm quyền giao toàn bộ tài sản và việc giao tài sản cho tổ chức KH&CN trực thuộc (con) thuộc thẩm quyền của tổ chức KH&CN chủ quản (mẹ).

- Trong Đề án của tổ chức KH&CN chủ quản (mẹ) phải làm rõ sự hoạt động độc lập cũng như mối quan hệ của các tổ chức KH&CN trực thuộc (con) và sau khi Đề án được phê duyệt, các mối quan hệ đó phải được quy định trong Điều lệ tổ chức và hoạt động của cả tổ chức con và tổ chức mẹ;

- Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Đề án chuyển đổi của các tổ chức KH&CN trực thuộc (con) trước, sau đó phê duyệt Đề án chuyển đổi của tổ chức KH&CN chủ quản (mẹ) hoặc phê duyệt đồng thời Đề án của tổ chức chủ quản (mẹ) và các tổ chức trực thuộc (con).   

Câu 34: Cấp nào được quy định là cấp có thẩm quyền phê duyệt Đề án chuyển đổi của tổ chức KH&CN và quyết định cho phép tổ chức KH&CN chuyển đổi thành tổ chức tự trang trải kinh phí?

Trả lời: Các Cơ quan sau đây có thẩm quyền phê duyệt Đề án chuyển đổi của tổ chức KH&CN và quyết định cho phép tổ chức KH&CN chuyển đổi thành tổ chức tự trang trải kinh phí:

- Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ;

- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Hội đồng quản trị Tổng công ty nhà nước (đối với các tổ chức KH&CN thuộc Tổng công ty);

- Giám đốc Đại học quốc gia (đối với các tổ chức KH&CN thuộc Đại học quốc gia);

Câu 35: Tổ chức KH&CN công lập được thành lập sau ngày Nghị định 115 có hiệu lực thi hành có phải xây dựng đề án chuyển đổi không? Quyền lợi và trách nhiệm của tổ chức KH&CN này như thế nào?

Trả lời: Tổ chức KH&CN công lập được thành lập sau ngày Nghị định 115 có hiệu lực thi hành vẫn phải xây dựng Đề án chuyển đổi để được phê duyệt ngay sau khi thành lập. Quyền lợi và trách nhiệm của tổ chức KH&CN được thực hiện theo quy định của Nghị định 115 ngay sau khi có quyết định cho phép chuyển đổi.

Câu 36: Sau khi được quyết định chuyển đổi thành tổ chức tự trang trải kinh phí, tổ chức KH&CN có được Nhà nước đầu tư phát triển nữa không?

Trả lời: - Tại điểm c, khoản 1, phần III Thông tư 12 ghi rõ:

“Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn đối ứng của các dự án, kinh phí mua sắm trang thiết bị và sửa chữa lớn tài sản cố định bố trí trong phạm vi dự toán chi ngân sách được cấp có thẩm quyền phê duyệt”.

Như vậy, sau khi chuyển đổi thành tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí, tổ chức KH&CN vẫn được Nhà nước đầu tư phát triển nếu có dự án khả thi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Câu 37: Tổ chức KH&CN có mức tăng trưởng cao được Nhà nước ưu tiên đầu tư phát triển được hiểu như thế nào?

Trả lời: - Theo quy định tại Khoản 3, Mục VIII, Thông tư 12: Tổ chức KH&CN có mức tăng trưởng cao được tính trên cơ sở mức nộp ngân sách nhà nước (bao gồm thuế, phí, lệ phí... và các khoản nghĩa vụ nộp ngân sách khác) tăng trưởng từ 10%/năm trở lên trong 3 năm liên tục sẽ được Nhà nước ưu tiên đầu tư phát triển.

- Đối với tổ chức KH&CN có sản xuất kinh doanh các sản phẩm thuộc lĩnh vực được ưu đãi về thuế, mức nộp ngân sách được tính cả phần thuế được miễn giảm để làm căn cứ tính tốc độ tăng trưởng.

- Việc ưu tiên đầu tư cho tổ chức KH&CN phụ thuộc vào tính khả thi của dự án đầu tư và quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Câu 38: Khi được phê duyệt đề án chuyển đổi trong đó có giao tài sản, tổ chức KH&CN được thực hiện những quyền gì với tài sản được giao?

Trả lời: Sau khi có quyết định giao tài sản của cơ quan có thẩm quyền, tổ chức KH&CN có các quyền sau đây đối với tài sản được giao:

- Sử dụng tài sản cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đào tạo;

- Dùng giá trị quyền sử dụng đất, tài sản được giao sử dụng để góp vốn liên doanh, liên kết theo quy định của pháp luật, được dùng tài sản hình thành từ nguồn vốn vay để thế chấp theo quy định;

- Tài sản sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau phải xây dựng kế hoạch sử dụng để phân bổ theo tiêu chí phù hợp với mục đích sử dụng để tính hao mòn và khấu hao theo quy định. Trường hợp cho thuê tài sản theo quy định của pháp luật thì phải trích 30% số tiền cho thuê dịch vụ theo hợp đồng vào quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị sau khi trừ chi phí khấu hao tài sản theo quy định.

- Được quyền làm thủ tục thanh lý hoặc chuyển nhượng theo trình tự và thủ tục quy định của pháp luật những tài sản không còn giá trị sử dụng hoặc không còn nhu cầu sử dụng; kinh phí chuyển nhượng hoặc thanh lý tài sản được đưa vào quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của tổ chức KH&CN và được sử dụng theo quy định của quỹ, không phải nộp ngân sách nhà nước.

- Tổ chức KH&CN có thể khấu hao nhanh những tài sản sử dụng vào sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong trường hợp hoạt động có hiệu quả và mức khấu hao không quá 2 lần mức khấu hao theo quy định của Nhà nước, được chủ động quyết định thanh lý tài sản.

Câu 39: Tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách có được giao tài sản như tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí không?

Trả lời: - Phần VII, Thông tư 12 quy định cụ thể việc giao tài sản cho các tổ chức KH&CN (thuộc đối tượng áp dụng của Nghị định 115) và không phân biệt tổ chức KH&CN đó là tổ chức nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách hay tổ chức tự trang trải kinh phí.

Vì vậy, tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách (là đối tượng áp dụng của Nghị định 115) được giao tài sản như tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí.

Câu 40: Xin cho biết thẩm quyền và thành phần của Hội đồng xác định giá trị tài sản?

Trả lời: Hội đồng xác định giá trị tài sản có trách nhiệm:

- Kiểm kê tài sản, xác định giá trị nguyên giá, lập phương án tính hao mòn tài sản của đơn vị sự nghiệp công lập, xác định giá trị tài sản hiện tại, lập biểu tổng hợp (theo mẫu tại Phụ lục III, Thông tư 12).

- Tư vấn cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền những tài sản giao và không giao và trình cấp có thẩm quyền (Bộ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương…) xem xét, ký quyết định giao.

Hội đồng xác định giá trị tài sản do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền  thành lập, thành phần gồm đại diện các đơn vị sau:

- Lãnh đạo Vụ (Sở, Ban) Tài chính làm Chủ tịch Hội đồng.

- Lãnh đạo Văn phòng, Vụ Tổ chức cán bộ (Sở Nội vụ, Ban Tổ chức cán bộ), Cơ quan chủ quản, Lãnh đạo tổ chức KH&CN làm ủy viên và những thành viên khác liên quan.

Câu 41: Xác định giá trị tài sản để giao cho tổ chức KH&CN quản lý và sử dụng có gì khác với định giá tài sản khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước?

Trả lời: - Việc xác định giá trị tài sản khi cổ phần hóa DNNN là việc xác định giá trị tổng tài sản của doanh nghiệp bao gồm cả giá trị vốn nhà nước (giá trị vốn nhà nước là phần vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khi thành lập doanh nghiệp cộng với phần giá trị tích lũy bổ sung hàng năm) và doanh nghiệp phải có trách nhiệm bảo toàn vốn nhà nước và khấu hao tài sản phải trích nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định.

Sau khi cổ phần hóa, phần giá trị vốn nhà nước giữ lại tại công ty cổ phần sẽ được coi là phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần đó (phần này có thể chỉ chiếm một tỷ lệ trong vốn điều lệ của công ty cổ phần) và Nhà nước cử người đại diện cho phần vốn nhà nước trong doanh nghiệp.

- Việc xác định giá trị tài sản khi thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115 chỉ là việc xác định tổng giá trị tài sản theo nguyên giá và giá trị còn lại tại thời điểm hiện tại của tổ chức KH&CN để Nhà nước giao cho tổ chức KH&CN sử dụng, quản lý theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

Tài sản giao cho đơn vị sự nghiệp phải được phân định rõ ràng phần tài sản dùng cho nghiên cứu khoa học và tài sản dùng cho sản xuất kinh doanh. Tài sản dùng cho nghiên cứu khoa học thì tính hao mòn theo quy định hiện hành đối với tài sản của đơn vị sự nghiệp của Nhà nước. Tài sản dùng cho sản xuất kinh doanh phải tính khấu hao và hạch toán vào giá thành sản phẩm, nhưng khấu hao được giữ lại đơn vị để tái đầu tư, không phải nộp vào ngân sách nhà nước.

Câu 42: Khi giao tài sản cho tổ chức KH&CN, tại sao cần làm rõ danh mục tài sản sử dụng cho nghiên cứu khoa học và tài sản sử dụng cho sản xuất kinh doanh?

Trả lời: Cần làm rõ danh mục tài sản sử dụng cho nghiên cứu khoa học và tài sản sử dụng cho sản xuất kinh doanh khi giao tài sản vì:

- Đối với tài sản sử dụng cho nghiên cứu khoa học phải có phương án tính hao mòn như tài sản của đơn vị sự nghiệp;

- Đối với tài sản sử dụng cho sản xuất kinh doanh phải có phương án tính khấu hao như tài sản của Nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước, đảm bảo sự bình đẳng trong sản xuất kinh doanh của tổ chức KH&CN so với các doanh nghiệp khác;

- Đối với loại tài sản sử dụng cho cả hai mục đích, đơn vị phải phân bổ thời gian sử dụng theo mục đích sử dụng và tiêu chí của đơn vị để có phương án tính khấu hao và tính hao mòn.

Câu 43: Thế nào là hao mòn tài sản và khấu hao tài sản? Phương pháp tính hao mòn và khấu hao tài sản?

Trả lời: Hao mòn tài sản: Trong quá trình được sử dụng, do chịu tác động của nhiều nguyên nhân nên tài sản cố định bị hao mòn dần. Sự hao mòn này có thể chia thành hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình:

l Hao mòn hữu hình là sự giảm dần về giá trị sử dụng và theo đó giá trị của tài sản cố định giảm dần;

l Hao mòn vô hình là sự giảm dần thuần tuý về mặt giá trị của tài sản cố định mà nguyên nhân chủ yếu là do sự tiến bộ của KH&CN;

Khấu hao tài sản: Để thu hồi lại giá trị của tài sản cố định do sự hao mòn trên, cần phải khấu hao tài sản cố định. Khấu hao tài sản cố định là sự phân bổ dần giá trị tài sản cố định vào giá thành sản phẩm nhằm tái sản xuất tài sản cố định sau khi hết thời gian sử dụng.

Về phương pháp tính hao mòn tài sản và khấu hao tài sản:

Tính hao mòn tài sản: Trước hết, phải xác định thời gian sử dụng của tài sản cố định. Thời gian này được xác định căn cứ vào tuổi thọ kỹ thuật của tài sản cố định, có tính đến sự lạc hậu, lỗi thời của tài sản cố định do sự tiến bộ của KH&CN, mục đích sử dụng và hiệu quả sử dụng. Cách tính như sau:

GH = NG/T và TH = 1/T , trong đó:

- GH: Giá trị hao mòn cơ bản bình quân hàng năm của tài sản cố định;

- NG: Nguyên giá của tài sản cố định bao gồm giá mua thực tế phải trả, các chi phí vận chuyển, bốc dỡ, lắp đặt, chạy thử, các khoản lãi vay đầu tư cho tài sản cố định khi chưa bàn giao và đưa vào sử dụng, các khoản thuế và lệ phí trước bạ nếu có;

- T: Thời gian sử dụng của tài sản cố định: Là thời gian tổ chức KH&CN dự kiến sử dụng tài sản cố định, được xác định căn cứ vào tuổi thọ kỹ thuật của tài sản cố định, có tính đến sự lạc hậu, lỗi thời của tài sản cố định do sự tiến bộ của KH&CN, mục đích sử dụng và hiệu quả sử dụng;

- TH: Tỷ lệ hao mòn hàng năm của tài sản cố định;

Tính khấu hao tài sản: Có một số cách tính khấu hao tài sản. Tổ chức KH&CN có thể áp dụng phương pháp khấu hao tuyến tính cố định (phương pháp này có ưu điểm là việc tính toán đơn giản, tổng mức khấu hao tài sản cố định được phân bổ đều đặn trong các năm sử dụng và không gây ra sự  đột biến trong giá thành sản phẩm hàng năm). Cách tính như sau:

MK = NG/T  và TK = MK/NG = 1/T, trong đó:

- MK: Mức khấu hao cơ bản bình quân hàng năm của tài sản cố định;

- NG: Nguyên giá của tài sản cố định (với định nghĩa như trên);

- T: Thời gian sử dụng của tài sản cố định (với định nghĩa như trên);

- TK: Tỷ lệ khấu hao hàng năm của tài sản cố định.

Câu 44: Vì sao tổ chức KH&CN sử dụng tài sản cho sản xuất kinh doanh được khấu hao nhanh tài sản nhưng không quá 2 lần mức quy định của Nhà nước?

Trả lời: Việc khấu hao tài sản có thể được khấu hao nhanh nhằm giúp tổ chức KH&CN giảm thiểu thuế thu nhập doanh nghiệp, sớm thu hồi vốn đầu tư tài sản (do khấu hao tài sản được tính vào chi phí hợp lý trước thuế). Tuy nhiên khấu hao nhanh vượt quá mức quy định có thể làm tăng giá thành sản phẩm, làm mất tính cạnh tranh và gây lỗ giả ảnh hưởng đến lợi nhuận và đời sống của cán bộ trong tổ chức KH&CN.

Việc tính khấu hao tài sản thực hiện theo quy định tại Thông tư số 33/2005/TT-BTC ngày 29/04/2005 của Bộ Tài chính (hướng dẫn một số điều tại Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác) và Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về ban hành Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định. 

Câu 45: Đối với loại tài sản có thể sử dụng cho cả 02 mục đích nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh thì giao và sử dụng tài sản đó tại tổ chức KH&CN được thực hiện như thế nào?

Trả lời: Đối với loại tài sản sử dụng cho cả 02 mục đích nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh:

- Cơ quan có thẩm quyền quyết định giao tài sản cho tổ chức KH&CN như các tài sản khác;

- Thủ trưởng tổ chức KH&CN xây dựng kế hoạch phân bổ việc sử dụng tài sản (cho cả 02 mục đích), việc phân bổ sử dụng tài sản theo thời gian sử dụng tài sản cho từng mục đích để có phương án tính hao mòn hoặc khấu hao tài sản. Phần trích khấu hao được tính vào chi phí hợp lý trước thuế, hạch toán vào giá thành sản phẩm và được giữ lại đơn vị để tái đầu tư.

Câu 46: Có nhất thiết phải giao toàn bộ tài sản mà tổ chức KH&CN đang sử dụng khi chuyển đổi sang cơ chế tự chủ hay không? Việc giao tài sản chưa xác định được giá trị, tài sản chưa rõ nguồn gốc, tài sản chưa quyết toán sau mua sắm thực hiện như thế nào?

Trả lời: Khi quyết định giao tài sản, cơ quan có thẩm quyền không nhất thiết phải giao ngay toàn bộ tài sản trong danh mục hiện có của tổ chức KH&CN. Những tài sản chưa xác định được giá trị, tài sản chưa rõ nguồn gốc, tài sản chưa được quyết toán, đất chưa có quyền sử dụng (sổ đỏ)… thì tạm thời chưa giao, khi nào hoàn thành thủ tục và xác định được giá trị thì các tài sản đó sẽ được giao tiếp. Nghĩa là việc giao tài sản có thể thực hiện theo nhiều giai đoạn. Tài sản chưa được giao vẫn thuộc quyền quản lý của Nhà nước và tổ chức KH&CN được sử dụng tài sản đó nhưng phải tuân thủ các quy định hiện hành về quản lý tài sản của Nhà nước.

Câu 47: Việc giao tài sản cho tổ chức KH&CN chuyển đổi có bao gồm đất đai không? Nếu đất chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng thì giao như thế nào?

Trả lời: - Việc giao tài sản cho tổ chức KH&CN chuyển đổi bao gồm cả quyền sử dụng đất đai. Tổ chức KH&CN được dùng giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn liên doanh, liên kết theo quy định của pháp luật.

- Nếu đất chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng (sổ đỏ) thì tạm thời chưa giao, khi nào hoàn thành thủ tục và xác định được giá trị sẽ đề nghị giao bổ sung.

Câu 48: Nếu một phần đất đai được giao cho tổ chức KH&CN lại được sử dụng cho mục đích sản xuất kinh doanh thì xử lý như thế nào?

Trả lời: Đất đã được giao cho tổ chức KH&CN được tổ chức KH&CN sử dụng như một phần tài sản, nếu một phần đất giao cho tổ chức KH&CN để sử dụng cho mục đích sản xuất kinh doanh thì tổ chức KH&CN phải lập phương án xin thuê đất đối với diện tích sử dụng cho sản xuất kinh doanh (như đối với doanh nghiệp nhà nước).

Câu 49: Tổ chức KH&CN có được đem quyền sử dụng đất và tài sản để thế chấp vay vốn ngân hàng không?

Trả lời: Tổ chức KH&CN không được dùng giá trị quyền sử dụng đất để thế chấp vay vốn ngân hàng mà chỉ được dùng để góp vốn liên doanh theo quy định của pháp luật (Khoản 2, Mục VII, Thông tư 12).

Câu 50: Tổ chức KH&CN có được quyền thanh lý, chuyển nhượng tài sản được giao không? Thủ tục thanh lý, chuyển nhượng tài sản?

Trả lời: Theo khoản 4, Mục VII, Thông tư liên tịch 12 có ghi rõ: “Những tài sản không còn giá trị sử dụng hoặc không còn nhu cầu sử dụng, đơn vị được quyền làm thủ tục thanh lý hoặc chuyển nhượng theo trình tự và thủ tục quy định của pháp luật, số tiền thu được bổ sung vào quỹ phát triển sự nghiệp của đơn vị”.

a/ Thủ trưởng tổ chức KH&CN được quyền quyết định thanh lý, chuyển nhượng tài sản nhà nước thuộc thẩm quyền (đã được giao theo quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khi phê duyệt Đề án chuyển đổi). Thủ tục thanh lý, chuyển nhượng tài sản theo quy định của pháp luật (trừ việc trình cơ quan có thẩm quyền quyết định, nhưng phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền trước khi quyết định để theo dõi);

b/ Đối với tài sản nhà nước không thuộc thẩm quyền (chưa được giao)

Theo Thông tư số 35/2007/TT-BTC ngày 10/4/2007 của Bộ Tài chính (hướng dẫn thực hiện Nghị định số 137/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy định việc phân cấp quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước tại cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước), thủ tục thanh lý, chuyển nhượng tài sản như sau:

Thủ tục thanh lý tài sản:

Thủ trưởng tổ chức KH&CN lập hồ sơ đề nghị thanh lý gửi cơ quan có thẩm quyền quyết định. Hồ sơ gồm:

l Văn bản đề nghị thanh lý tài sản nhà nước;

l Bảng kê số lượng, nguyên giá, giá trị còn lại của tài sản đề nghị thanh lý, kèm theo các tài liệu liên quan đến tài sản đề nghị thanh lý;

l Đối với các loại tài sản mà pháp luật có quy định khi thanh lý cần có ý kiến xác nhận chất lượng tài sản của cơ quan chuyên môn thì phải gửi kèm ý kiến bằng văn bản của các cơ quan này; 

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định việc thanh lý tài sản nhà nước theo đề nghị của Thủ trưởng tổ chức KH&CN. Trong quyết định thanh lý phải quy định rõ hình thức thanh lý: Phá dỡ, bán, tiêu huỷ.

Căn cứ quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, việc thanh lý được thực hiện như sau:

l Thủ trưởng tổ chức KH&CN sử dụng tài sản tổ chức thực hiện việc thanh lý tài sản theo đúng nội dung, phương thức ghi trong quyết định thanh lý tài sản của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền:

Đối với tài sản thanh lý theo phương thức bán, đơn vị thuê tổ chức có chức năng bán đấu giá được phép hoạt động theo quy định của pháp luật thực hiện bán tài sản thanh lý theo phương thức đấu giá công khai. Nếu tại địa bàn (quận, huyện) nơi có tài sản thanh lý không có tổ chức bán đấu giá hoặc có nhưng tổ chức này từ chối, thì Thủ trưởng tổ chức KH&CN thành lập Hội đồng thanh lý tài sản theo quy định của pháp luật để bán đấu giá;

Đối với tài sản được cơ quan có thẩm quyền quyết định thanh lý theo phương thức phá dỡ, tiêu huỷ thì tổ chức KH&CN thực hiện phá dỡ tiêu huỷ, nhưng phải thu hồi vật liệu (nếu có) để bán.

l Chậm nhất sau 30 kể từ ngày kết thúc việc thanh lý tài sản, tổ chức KH&CN phải báo cáo cơ quan tổ chức đăng ký điều chỉnh số liệu tài sản theo quy định và thực hiện hạch toán giảm tài sản đã bán theo chế độ kế toán hiện hành.

Thủ tục bán, chuyển nhượng tài sản:

Tổ chức KH&CN có nhu cầu bán, chuyển nhượng tài sản nhà nước không thuộc thẩm quyền (chưa được giao) lập hồ sơ đề nghị bán, chuyển nhượng tài sản, gửi cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định. Hồ sơ gồm:

l Văn bản đề nghị bán, chuyển nhượng tài sản nhà nước;

l ý kiến bằng văn bản của các cơ quan có liên quan theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 137/2006/NĐ-CP của Chính phủ và ý kiến của các cơ quan khác mà pháp luật quy định khi bán, chuyển nhượng tài sản nhà nước cần phải có ý kiến của các cơ quan này;

l Bảng kê số lượng, nguyên giá, giá trị còn lại kèm theo các hồ sơ có liên quan đến tài sản đề nghị bán, chuyển nhượng.

Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định bán, chuyển nhượng tài sản nhà nước tại Điều 12 Nghị định số 137/2006/NĐ-CP của Chính phủ xem xét, quyết định việc bán, chuyển nhượng. Trong quyết định phải ghi rõ hình thức, thời hạn tổ chức thực hiện việc bán, chuyển nhượng.

Sau khi có quyết định của Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, việc bán, chuyển nhượng được thực hiện như sau:

Tổ chức KH&CN trực tiếp quản lý tài sản thực hiện xác định giá bán, hoặc thuê tổ chức có chức năng thẩm định giá xác định giá bán đảm bảo phù hợp với giá trị còn lại thực tế của tài sản được bán, gửi cơ quan tài chính (Bộ Tài chính hoặc cơ quan Tài chính của Bộ, cơ quan Trung ương hoặc Sở Tài chính) thẩm định trình cơ quan quyết định bán, chuyển nhượng tài sản phê duyệt. Trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất, việc xác định giá do Sở Tài chính (nơi có đất chuyển nhượng) xác định sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế ở địa phương trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh phê duyệt; 

Tổ chức KH&CN trực tiếp quản lý tài sản thực hiện thuê tổ chức có chức năng bán đấu giá tài sản được phép hoạt động theo quy định của pháp luật để bán đấu giá. Nếu tại địa bàn quận, huyện không có tổ chức có chức năng bán đấu giá tài sản hoặc có nhưng các tổ chức này từ chối thực hiện bán, thì đơn vị thành lập Hội đồng theo quy định để bán đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá;

-  Trường hợp được cơ quan có thẩm quyền quyết định bán, chuyển nhượng tài sản theo phương thức chỉ định, thì giá bán, chuyển nhượng tài sản phải được tổ chức có chức năng định giá tài sản được phép hoạt động theo quy định của pháp luật xác định và được UBND cấp tỉnh phê duyệt; trường hợp trung ương quản lý thì phải có ý kiến thống nhất của Bộ Tài chính đối với tài sản gắn liền với đất;

Việc bán, chuyển nhượng tài sản nhà nước phải thực hiện theo đúng thời hạn đã ghi trong quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Quá thời hạn, tổ chức KH&CN phải báo cáo với cơ quan quyết định bán, chuyển nhượng tài sản nhà nước xem xét, cho gia hạn hoặc thay đổi quyết định;

Chậm nhất sau 30 kể từ ngày kết thúc việc bán, chuyển nhượng tài sản, tổ chức KH&CN phải báo cáo cơ quan tổ chức đăng ký điều chỉnh số liệu tài sản theo quy định của đơn vị và thực hiện hạch toán giảm tài sản đã bán theo chế độ kế toán hiện hành.

Câu 51: Kinh phí thu được khi thanh lý hoặc chuyển nhượng tài sản được sử dụng như thế nào?

Trả lời: Kinh phí thu được khi thanh lý hoặc chuyển nhượng tài sản được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp khoa học để đầu tư phát triển nâng cao hoạt động sự nghiệp, bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm máy móc, trang thiết bị, phương tiện làm việc, chi nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đầu tư liên doanh, liên kết, trợ giúp hoạt động đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực cho đơn vị.

Câu 52: Trước đây tổ chức KH&CN có một số tài sản được mua sắm bằng kinh phí đề tài, dự án khoa học, bằng nguồn kinh phí tự có hoặc nguồn viện trợ, quà biếu. Khi chuyển đổi theo Nghị định 115, các tài sản này có thuộc diện phải giao không?

Trả lời: Tất cả các tài sản được mua sắm bằng kinh phí đề tài, dự án khoa học, bằng nguồn kinh phí tự có hoặc nguồn viện trợ, quà biếu đều là tài sản của Nhà nước, vì vậy, khi chuyển đổi theo Nghị định 115, các tài sản này thuộc diện phải giao.

Câu 53: Những tài sản không còn giá trị sử dụng hoặc không có nhu cầu sử dụng có buộc phải giao cho tổ chức KH&CN hay không?

Trả lời: Theo khoản 4 Mục VII, Thông tư 12 ghi rõ: “Những tài sản không còn giá trị sử dụng hoặc không có nhu cầu sử dụng, tổ chức KH&CN tiến hành các thủ tục thanh lý hoặc chuyển nhượng theo quy định của pháp luật và số tiền thu được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị”. Như vậy, tổ chức KH&CN có thể đề nghị cấp có thẩm quyền thanh lý hoặc chuyển nhượng tài sản không còn giá trị sử dụng hoặc không có nhu cầu sử dụng trước khi phê duyệt Đề án chuyển đổi và giao tài sản cho tổ chức KH&CN.

Câu 54: Thế nào là chênh lệch thu chi của tổ chức KH&CN công lập? Tổ chức KH&CN được sử dụng khoản chênh lệch thu chi cho những nội dung gì?

Trả lời: Chênh lệch thu chi là phần dư giữa tổng thu và tổng chi sau khi đã trang trải tất cả các khoản chi phí hợp lý, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quy định, kể cả nộp thuế. Tổ chức KH&CN được sử dụng khoản chênh lệch thu chi cho những nội dung sau:

Chi thu nhập tăng thêm cho cán bộ, viên chức và người lao động;

Trích lập các Quỹ theo quy định;

Chi khác theo Quy chế chi tiêu nội bộ.

Câu 55: Tiền lương của cán bộ viên chức và người lao động có được tính vào chi phí hợp lý trước thuế không? Có được xây dựng mức tiền lương trong hợp đồng cao hơn hay thấp hơn mức lương cơ bản của Nhà nước quy định không?

Trả lời: - Tiền lương của cán bộ, viên chức và người lao động được tính vào chi phí hợp lý trước thuế.

- Theo điểm a khoản 2, Mục IV, Thông tư 12 có nêu rõ: “Tổ chức KH&CN phải đảm bảo chi trả tiền lương và các khoản trích theo lương cho cán bộ, viên chức và người lao động tối thiểu bằng mức quy định của Nhà nước theo ngạch lương, bậc lương và phụ cấp chức vụ; tùy thuộc vào kết quả tài chính trong năm, mức chi trả tiền lương thực tế có thể cao hơn mức quy định của Nhà nước”.

Như vậy, tổ chức KH&CN hoàn toàn có thể xây dựng mức tiền lương trong hợp đồng cao hơn mức lương cơ bản của Nhà nước, nhưng không được thấp hơn mức lương cơ bản của Nhà nước.

Câu 56: Trong giai đoạn chuẩn bị chuyển đổi (tổ chức KH&CN đã được phê duyệt Đề án chuyển đổi nhưng chưa tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên), tổ chức KH&CN có được xây dựng mức tiền lương trong hợp đồng cao hơn hay thấp hơn mức lương cơ bản của Nhà nước quy định không?

Trả lời: Tổ chức KH&CN được thực hiện quyền tự chủ của Nghị định 115 và hướng dẫn tại Thông tư 12 từ khi có quyết định phê duyệt Đề án chuyển đổi của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, kể cả trong giai đoạn chuẩn bị chuyển đổi tổ chức KH&CN vẫn được Nhà nước cấp kinh phí hoạt động thường xuyên.

Theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Mục IV Thông tư 12 (tham khảo câu 55) thì tổ chức KH&CN được xây dựng mức tiền lương cao hơn mức quy định của Nhà nước, nhưng không được thấp hơn mức lương cơ bản của Nhà nước theo ngạch bậc, kể cả các chế độ phụ cấp theo lương.

Câu 57: Nguyên tắc chuyển xếp lương cho cán bộ viên chức và người lao động trong tổ chức KH&CN sau chuyển đổi sang hình thức tự trang trải kinh phí?

Trả lời: Sau khi tổ chức KH&CN có quyết định chuyển đổi sang hình thức tự trang trải kinh phí của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền, tổ chức KH&CN vẫn là đơn vị sự nghiệp của nhà nước và việc chuyển xếp lương cho cán bộ, viên chức trong đơn vị dựa trên nguyên tắc áp dụng bảng lương đối với đơn vị sự nghiệp.

Câu 58: Thẩm quyền nâng lương của thủ trưởng tổ chức KH&CN như thế nào?

Trả lời: Theo hướng dẫn tại khoản 1, Mục XI, Thông tư 12, Thủ trưởng tổ chức KH&CN được quyền quyết định nâng bậc lương cho cán bộ viên chức theo quy định của Nhà nước về thời hạn nâng bậc lương của từng ngạch viên chức (trừ viên chức ngạch nghiên cứu viên cao cấp và tương đương trở lên), cụ thể là:

- Nâng bậc lương thường xuyên theo quy định của Nhà nước;

- Nâng lương trước thời hạn cho những người đạt thành tích xuất sắc;

- Tăng lương vượt một bậc trong cùng một ngạch cho những người có thành tích đặc biệt xuất sắc, mang lại lợi ích thiết thực cho đơn vị và đóng góp cho xã hội.

Điều kiện và tiêu chuẩn cụ thể để nâng lương trước hạn, nâng lương vượt bậc được quy định tại khoản 2 Mục XI Thông tư 12 (tham khảo câu 59).

Câu 59: Khi nào cán bộ viên chức được nâng bậc lương trước thời hạn và được nâng lương vượt bậc trong cùng ngạch?

Trả lời: Tại khoản 2, mục XI, Thông tư 12 hướng dẫn:

- Nâng lương trước thời hạn từ 06 tháng đến 01 năm cho viên chức không vi phạm kỷ luật và đạt một trong các tiêu chuẩn sau đây giữa hai kỳ nâng lương:

l 02 năm liền đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp cơ sở hoặc 01 năm đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp Bộ;

l Chủ trì đề tài KHCN cấp Nhà nước được nghiệm thu xuất sắc;

l Có công trình khoa học được công bố trên tạp chí có uy tín quốc tế hoặc hội nghị khoa học ở nước ngoài;

l Được tặng bằng khen của Thủ tướng Chính phủ hoặc 02 bằng khen của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

- Nâng lương vượt một bậc trong cùng ngạch cho viên chức không vi phạm kỷ luật và đạt một trong các tiêu chuẩn sau đây giữa hai kỳ nâng lương:

l Đạt giải thưởng quốc gia hoặc quốc tế về KH&CN;

l Có phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích được đăng ký ở trong và ngoài nước;

l Được tặng thưởng huân chương các loại;

l Được Nhà nước phong tặng danh hiệu: Anh hùng lao động, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Chiến sỹ thi đua toàn quốc, Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú, Thầy thuốc nhân dân, Thầy thuốc ưu tú và các danh hiệu vinh dự Nhà nước khác.

Câu 60: Viên chức đã hưởng bậc lương cao nhất của ngạch và đã được xếp vượt khung nếu có thành tích đặc biệt xuất sắc thì nâng lương như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại Thông tư số 03/2005/TT-BNV ngày 5/01/2005 hướng dẫn thực hiện chế độ nâng lương thường xuyên và nâng lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức thì điều kiện để xét nâng lương thường xuyên và nâng lương trước thời hạn phải là những cán bộ, công chức, viên chức chưa xếp bậc lương cuối cùng trong ngạch. Vì vậy, không thể xem xét việc nâng bậc lương đối với người đã được xếp bậc cuối cùng trong ngạch khi có thành tích đặc biệt xuất sắc. Tổ chức KH&CN có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét nâng ngạch đặc cách cho viên chức nếu có đủ điều kiện để nâng ngạch không qua thi, sau đó chuyển xếp lương theo chế độ nâng lương sớm hoặc vượt bậc.

Trường hợp không đặc cách nâng ngạch được, tổ chức KH&CN xem xét, khen thưởng bằng các hình thức khác.

Câu 61: Việc nâng ngạch cho cán bộ viên chức trong tổ chức KH&CN thực hiện thế nào?

Trả lời: Việc nâng ngạch cho cán bộ viên chức được thực hiện theo quy định hiện hành của Nhà nước. Hàng năm, tổ chức KH&CN phải tổng hợp nhu cầu thi nâng ngạch của đơn vị và gửi cơ quan chủ quản để cơ quan chủ quản xem xét, tổng hợp và đề nghị cơ quan có thẩm quyền phân bổ chỉ tiêu dự thi nâng ngạch.

Việc thi nâng ngạch cho cán bộ, viên chức của tổ chức KH&CN được thực hiện theo quy định chung của Nhà nước (tham khảo Nghị định 116/2003/NĐ-CP, Nghị định 121/2006/NĐ-CP và Thông tư 04/2007/TT-BNV ngày 21/6/2007).

Câu 62: Cán bộ, viên chức trong tổ chức KH&CN sau khi chuyển đổi thành tổ chức tự trang trải kinh phí có còn là viên chức nhà nước không? Có được hưởng mọi quyền lợi của viên chức nhà nước không?

Trả lời: Cán bộ, viên chức trong tổ chức KH&CN sau khi chuyển đổi thành tổ chức tự trang trải kinh phí vẫn là viên chức sự nghiệp, hưởng lương theo ngạch bậc của viên chức do Nhà nước quy định và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật.

Câu 63: Có mấy loại hợp đồng đối với cán bộ viên chức và người lao động trong tổ chức KH&CN? Sự khác nhau giữa các loại hợp đồng này?

Trả lời: - Có 3 loại hợp đồng trong tổ chức KH&CN: Hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động, hợp đồng thuê khoán công việc.

- Các loại hợp đồng trên khác nhau về đối tượng áp dụng:

l Hợp đồng làm việc được ký cho những cán bộ, viên chức được tuyển dụng vào biên chế nhà nước trước ngày 01/7/2003 và viên chức được tuyển dụng theo kế hoạch biên chế của tổ chức KH&CN, đáp ứng tiêu chuẩn quy định đối với các ngạch viên chức. Hợp đồng làm việc có loại không thời hạn (dài hạn) hoặc có thời hạn (ngắn hạn);

l Hợp đồng lao động được ký với những người không làm công tác chuyên môn hoặc những người làm việc tại các bộ phận sản xuất kinh doanh trong tổ chức KH&CN. Hợp đồng lao động cũng có loại không thời hạn (dài hạn) hoặc có thời hạn (ngắn hạn);

l Hợp đồng thuê khoán công việc: được ký đối với những công việc không cần thiết bố trí biên chế thường xuyên hoặc giải quyết một số công việc đột xuất.

Câu 64: Quyền lợi của người ký hợp đồng có thời hạn và hợp đồng không xác định thời hạn (dài hạn) có gì khác nhau?

Trả lời: - Quyền lợi về chế độ của Nhà nước đối với người được ký hợp đồng có thời hạn và hợp đồng không xác định thời hạn (dài hạn) nói chung không có gì khác nhau (xếp lương, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, hưu trí, công đoàn, phân công công việc, khen thưởng, kỷ luật, phát triển Đảng…).

Tuy nhiên, khi chấm dứt hợp đồng hoặc tinh giảm biên chế thì chế độ có một số điểm khác nhau theo quy định của Luật lao động (chế độ bồi thường kinh phí, thời gian phải thông báo trước với người lao động, quyết định hành chính về việc chấm dứt hợp đồng…). Riêng về bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, những người có thời gian làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc không xác định thời hạn liên tục từ 03 năm trở lên (tại tổ chức KH&CN đang làm việc, hoặc trước đó tại các cơ quan hành chính, tổ chức sự nghiệp của Nhà nước) và có đủ các tiêu chuẩn khác theo quy định, mới được xem xét để bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo tổ chức KH&CN (theo khoản 4 Mục X, Thông tư 12).

Câu 65: Cán bộ viên chức đã vào biên chế nhà nước trước ngày Nghị định số 116/2003/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý cán bộ, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước có hiệu lực thi hành có phải ký hợp đồng không? Nếu có thì quy định như thế nào?

Trả lời: Theo khoản 2, Mục X, Thông tư 12 hướng dẫn: “Đối với cán bộ, viên chức đã được tuyển dụng vào biên chế của các tổ chức hành chính sự nghiệp Nhà nước trước ngày 01/7/2003 hiện đang làm việc tại tổ chức KH&CN thực hiện ký hợp đồng làm việc không xác định thời hạn”. Thủ trưởng tổ chức KH&CN là người ký hợp đồng làm việc với viên chức làm việc trong đơn vị.

Câu 66: Thủ trưởng tổ chức KH&CN ký hợp đồng với cán bộ viên chức và người lao động trong tổ chức KH&CN, vậy ai sẽ ký hợp đồng với thủ trưởng tổ chức KH&CN? Nội dung và thời hạn của hợp đồng này có gì mâu thuẫn với Quyết định bổ nhiệm của cơ quan chủ quan không?

Trả lời: Theo khoản 2, Mục X, Thông tư 12, Thủ trưởng cơ quan chủ quản ký hợp đồng làm việc với Thủ trưởng và cấp phó của tổ chức KH&CN.

Nội dung và thời hạn của hợp đồng này không có gì mâu thuẫn với Quyết định bổ nhiệm của cơ quan chủ quản:

- Về nội dung: Hợp đồng làm việc và Quyết định bổ nhiệm có nội dung hoàn toàn khác nhau.

l Hợp đồng làm việc là hình thức tuyển dụng để làm việc tại tổ chức KH&CN.

l Quyết định bổ nhiệm là hình thức bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo đơn vị.

- Về thời hạn:

l Hợp đồng làm việc của người được bổ nhiệm là hợp đồng không xác định thời hạn.

l Quyết định bổ nhiệm là có thời hạn (theo nhiệm kỳ). Sau khi hết nhiệm kỳ lãnh đạo tổ chức KH&CN, nếu không được bổ nhiệm tiếp vẫn là cán bộ, viên chức trong đơn vị.

Câu 67: Khái niệm “biên chế” của tổ chức KH&CN theo quy định của Nghị định 115 có gì khác với biên chế trong các cơ quan nhà nước trước đây?

Trả lời: - Biên chế trong các cơ quan nhà nước trước đây là số người làm việc trong cơ quan để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (hiện nay là Bộ Nội vụ và các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, UBND các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương) phê duyệt và giao, làm căn cứ cấp kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm.

- Biên chế của tổ chức KH&CN theo quy định của Nghị định 115 là kế hoạch biên chế (số lượng người làm việc của đơn vị) được lập ra nhằm đảm bảo khối lượng công việc của tổ chức KH&CN. Thủ trưởng tổ chức KH&CN tự quyết định số lượng biên chế căn cứ vào tính chất, khối lượng công việc và nguồn thu của đơn vị, tự quyết định hình thức tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch viên chức theo quy định của nhà nước và giao nhiệm vụ cho viên chức theo hợp đồng. Nói khác đi, biên chế của đơn vị sự nghiệp thuần túy chỉ là số người cần để làm việc do đơn vị tự quyết định, không sử dụng làm căn cứ để cấp kinh phí hoạt động thường xuyên từ ngân sách nhà nước.

Câu 68: Đề nghị nói rõ hơn về quyền tự chủ về biên chế của các tổ chức KH&CN?

Trả lời: Theo khoản 4, 5 và 6 Mục X Thông tư 12, Thủ trưởng tổ chức KH&CN được quyền:

- Xây dựng kế hoạch biên chế, xác định thời gian, hình thức tuyển dụng (thi tuyển hoặc xét tuyển), kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức của đơn vị.

- Tổ chức việc tuyển dụng (thi tuyển hoặc xét tuyển), quyết định việc bổ nhiệm vào ngạch và xếp lương theo ngạch, bậc đúng quy định đối với ngạch nghiên cứu viên và tương đương trở xuống đối với người trúng tuyển.

Câu 69: Tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách có được tự chủ về biên chế không?

Trả lời: Tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách thuộc khoản 3 Điều 4 của Nghị định 115 được hưởng mọi quyền tự chủ theo quy định của Nghị định 115 và Thông tư 12, kể cả quyền tự chủ về biên chế. Kinh phí hoạt động thường xuyên do ngân sách nhà nước cấp theo phương thức khoán, và Thủ trưởng đơn vị được quyền sử dụng kinh phí này theo phương thức khoán, kinh phí tiết kiệm được (do tinh giảm biên chế, tiết kiệm chi hoạt động bộ máy…) có thể dùng để trả lương và thu nhập tăng thêm cho cán bộ viên chức.

Câu 70: Khi chuyển đổi theo quy định của Nghị định 115 sẽ phải sắp xếp lại bộ máy và nhân lực của tổ chức KH&CN và xuất hiện tình trạng dôi dư nhân lực. Làm thế nào để tinh giản biên chế?

Trả lời: Khi xây dựng Đề án, tổ chức KH&CN lập danh sách thuộc diện tinh giảm biên chế và phân loại:

- Những người đủ tuổi và điều kiện khác để nghỉ hưu trước 31/12/2009 thì giải quyết chế độ hưu theo diện tinh giản biên chế hoặc cho nghỉ chờ hưu có hưởng lương theo quy định của Nhà nước (vì Nhà nước vẫn cấp kinh phí hoạt động thường xuyên đến hết năm 2009 như trước đây);

- Những người có nguyện vọng chuyển công tác đi cơ quan khác thì tạo điều kiện cho chuyển công tác;

- Những người có nguyện vọng thôi việc thì hưởng trợ cấp 1 lần.

Việc tinh giản biên chế thực hiện theo Nghị định 132/2007/NĐ-CP ngày 08/8/2007 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế và Thông tư hướng dẫn số 02/2007/TTLT-BNV-BTC ngày 24/9/2007 của Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính.

Câu 71: Tổ chức KH&CN đã chuyển đổi thành doanh nghiệp KH&CN, cán bộ viên chức phải chuyển sang chế độ người lao động trong doanh nghiệp, nếu muốn chuyển công tác về một đơn vị sự nghiệp thì có phải tuyển dụng lại không?

Trả lời:  - Tổ chức KH&CN đã chuyển đổi thành doanh nghiệp KH&CN, cán bộ viên chức phải chuyển sang chế độ người lao động trong doanh nghiệp.

- Việc cán bộ trong doanh nghiệp có nguyện vọng chuyển công tác về một đơn vị sự nghiệp sẽ phụ thuộc vào việc tuyển dụng trước đây:

l Nếu việc tuyển dụng vào tổ chức KH&CN trước đây được thực hiện thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển, có quyết định bổ nhiệm vào ngạch thì không cần phải tuyển dụng lại.

l Trường hợp chưa qua kỳ thi tuyển hoặc xét tuyển vào đơn vị sự nghiệp thì  phải thực hiện các thủ tục thi tuyển hoặc xét tuyển để tuyển dụng lại.

Câu 72: Tổ chức KH&CN cần làm những thủ tục gì để được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh?

Trả lời: Để được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, tổ chức KH&CN phải làm hồ sơ và đăng ký tại Sở Kế hoạch và Đầu tư của địa phương. Hồ sơ gồm:

- Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh (theo Mẫu số 1 kèm theo Công văn số 3831/BKH-PTDN ngày 04/6/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn đăng ký kinh doanh đối với các tổ chức KH&CN công lập);

- Điều lệ Tổ chức và Hoạt động  của tổ chức KH&CN;

- Quyết định phê duyệt Đề án chuyển đổi tổ chức KH&CN sang hoạt động theo cơ chế tự trang trải kinh phí của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;

- Quyết định bổ nhiệm Thủ trưởng tổ chức KH&CN;

Bản sao hợp lệ một trong những giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 18 Nghị định số 88/2006/NĐ-CP đối với Thủ trưởng tổ chức KH&CN;

- Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định;

- Bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của Thủ trưởng tổ chức KH&CN hoặc các chức danh quản lý khác được quy định tại Điều lệ đối với tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề.

Câu 73: Tại sao tổ chức KH&CN có sản xuất kinh doanh phải mở tài khoản riêng cho sản xuất kinh doanh tại ngân hàng?

Trả lời: Khi có sản xuất kinh doanh, tổ chức KH&CN thực hiện đồng thời hai loại nhiệm vụ: Nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và sản xuất kinh doanh. Cơ chế tài chính đối với hai loại nhiệm vụ này là hoàn toàn khác nhau (như cơ chế quản lý tài sản; cơ chế thu, chi; cơ chế thuế...). Để hoạt động tài chính được minh bạch, rõ ràng, đúng nguyên tắc, phù hợp với các chế độ thanh tra, kiểm tra, quyết toán khác nhau đối với từng loại nhiệm vụ, bên cạnh tài khoản ở kho bạc nhà nước sử dụng cho hoạt động sự nghiệp, tổ chức KH&CN phải mở tài khoản riêng tại ngân hàng để theo dõi hoạt động sản xuất kinh doanh. 

Câu 74: Khi sản xuất kinh doanh, tổ chức KH&CN được ưu đãi gì về thuế?

Trả lời: Theo quy định tại khoản 5 Điều 9 Nghị định 115 thì tổ chức KH&CN chuyển sang hoạt động theo hình thức tự trang trải kinh phí tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp như đối với doanh nghiệp sản xuất mới thành lập (tham khảo Nghị định số 24/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp). Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, tổ chức KH&CN được hưởng chế độ miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

- Được miễn thuế 02 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp cho 02 năm tiếp theo đối với cơ sở sản xuất mới thành lập từ dự án đầu tư và cơ sở kinh doanh di chuyển địa điểm ra khỏi đô thị theo quy hoạch đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;

- Được miễn thuế 02 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp cho 03 năm tiếp theo đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư vào ngành nghề, lĩnh vực thuộc danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư;

- Được miễn thuế 02 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp cho 06 năm tiếp theo đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư tại địa bàn thuộc danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và cơ sở kinh doanh di chuyển đến địa bàn thuộc danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn;

- Được miễn thuế 03 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp cho 07 năm tiếp theo đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư vào ngành nghề, lĩnh vực thuộc danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư và thực hiện tại địa bàn thuộc danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn;

- Được miễn thuế 04 năm, kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế phải nộp cho 09 năm tiếp theo đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập từ dự án đầu tư vào ngành nghề, lĩnh vực thuộc danh mục ngành nghề, lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư hoặc thực hiện tại địa bàn thuộc danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Câu 75: Tổ chức KH&CN có sản xuất kinh doanh có được quyền xuất nhập khẩu trực tiếp nguyên vật liệu và sản phẩm hàng hóa không?

Trả lời: Theo quy định tại Khoản 3, Điều 6, Nghị định 115, tổ chức KH&CN được quyền xuất khẩu, nhập khẩu trực tiếp công nghệ và sản phẩm hàng hóa thuộc lĩnh vực hoạt động chuyên môn của đơn vị theo quy định của pháp luật đối với doanh nghiệp.

Câu 76: Thủ trưởng tổ chức KH&CN có được quyền quyết định cử cán bộ viên chức đi công tác, học tập ở nước ngoài không? Thủ tục?

Trả lời: Tại điểm b khoản 4 Điều 5, Nghị định 115 ghi rõ: “Các tổ chức KH&CN được quyền trực tiếp quyết định việc mời chuyên gia, các nhà khoa học nước ngoài vào Việt Nam và cử cán bộ ra nước ngoài công tác”. Như vậy, Thủ trưởng tổ chức KH&CN chuyển đổi theo Nghị định 115 được quyền ra quyết định cử cán bộ viên chức đi công tác nước ngoài và mời chuyên gia nước ngoài vào Việt Nam (bảo lãnh visa). Thủ tục đăng ký chữ ký và con dấu tại cơ quan ngoại giao và công an được quy định tại Thông tư 11.

Điểm b khoản 3 Mục II Thông tư 11 hướng dẫn thủ tục về cấp hộ chiếu như sau:

- Đối với người thuộc diện được cấp hộ chiếu công vụ, Thủ trưởng tổ chức KH&CN gửi Công văn đến Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao đề nghị cấp hộ chiếu công vụ;

- Đối với người thuộc diện được cấp hộ chiếu phổ thông, Thủ trưởng tổ chức KH&CN gủi Công văn đến Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an đề nghị cấp hộ chiếu phổ thông.

Trường hợp tổ chức KH&CN ở xa Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an, Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao thì có thể nộp hồ sơ và nhận kết quả tại Sở Ngoại vụ hoặc Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chậm nhất sau 07 ngày làm việc người xin cấp hộ chiếu nhận kết quả tại Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.     

Câu 77: Thủ trưởng tổ chức KH&CN có được quyền mời (bảo lãnh visa) các nhà khoa học nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam không? Thủ tục?

Trả lời: Khoản 2  Mục II Thông tư 11 hướng dẫn:

- Căn cứ nhu cầu mời chuyên gia, các nhà khoa học nước ngoài vào Việt Nam, Thủ trưởng tổ chức KH&CN gửi công văn đến Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an hoặc Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao đề nghị làm thủ tục cho khách nhập cảnh. Công văn nêu rõ họ tên khách, mục đích nhập cảnh Việt Nam, thời gian dự kiến tạm trú. Trong trường hợp đề nghị cấp thị thực cho khách tại cửa khẩu quốc tế, công văn cần nêu rõ tên cửa khẩu và thời gian khách nhập cảnh, lý do đề nghị cấp thị thực tại cửa khẩu.

- Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an hoặc Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao có công văn trả lời trong thời gian 03 ngày làm việc từ khi nhận được công văn đề nghị, trường hợp phát hiện người nước ngoài thuộc diện chưa được nhập cảnh thì sẽ nêu rõ lý do để tổ chức KH&CN đó biết.

- Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an sẽ thông báo cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp thị thực cho người nước ngoài vào Việt Nam. Tổ chức KH&CN có trách nhiệm thanh toán với Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an cước phí vận chuyển hồ sơ theo quy định của ngành Bưu chính viễn thông.

- Khi chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài vào hoạt động KH&CN tại Việt Nam có nhu cầu gia hạn chứng nhận tạm trú, cấp bổ sung, sửa đổi thị thực, tổ chức KH&CN gửi công văn kèm theo hộ chiếu của khách đến Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an hoặc Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để xem xét, giải quyết.

Câu 78: Cán bộ, viên chức của tổ chức KH&CN chuyển đổi thành tổ chức tự trang trải kinh phí đi công tác nước ngoài có được cấp hộ chiếu công vụ không?

Trả lời: Theo khoản 1, Điều 7, Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17/8/2007 của Chính phủ về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam ghi rõ: “... Hộ chiếu công vụ cấp cho công dân Việt Nam thuộc diện sau đây, được cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 32 Nghị định này cử ra nước ngoài thực hiện nhiệm vụ thuộc chức năng của cơ quan đó:

1. Cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức...”

Cán bộ, viên chức của tổ chức KH&CN chuyển đổi thành tổ chức tự trang trải kinh phí vẫn là cán bộ, viên chức sự nghiệp của Nhà nước vì vậy nếu đi nước ngoài làm nhiệm vụ của tổ chức giao thì được cấp hộ chiếu công vụ theo quy định.

Câu 79: Thẩm quyền tuyển dụng viên chức và người lao động vào làm việc tại tổ chức KH&CN?

Trả lời: Tại khoản 1 và 2 Điều 11 Nghị định 115 nêu rõ: Thủ trưởng tổ chức KH&CN được quyền:

- Quyết định tổng số biên chế hàng năm của đơn vị căn cứ vào nhu cầu cán bộ và khả năng tài chính của đơn vị.

- Quyết định việc tuyển dụng viên chức theo hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển; ký quyết định bổ nhiệm vào ngạch đối với viên chức sau tuyển dụng; ký hợp đồng làm việc với những người được tuyển dụng.

Câu 80: Trình tự thủ tục thi tuyển viên chức?

Trả lời: Theo Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước và Thông tư số 10/2004/TT-BNV ngày 19/02/2004 của Bộ Nội vụ (hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ), trình tự, thủ tục thi tuyển viên chức như sau:

1/ Thông báo tuyển dụng:

Trước 30 ngày tổ chức tuyển dụng, tổ chức KH&CN thông báo tuyển dụng trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở của tổ chức KH&CN. Nội dung thông báo gồm: điều kiện, tiêu chuẩn đăng ký dự tuyển, số lượng cần tuyển, nội dung hồ sơ đăng ký dự tuyển, thời gian đăng ký dự tuyển và địa điểm nộp hồ sơ, số điện thoại liên hệ.

2/ Thành lập Hội đồng tuyển dụng:

Tổ chức KH&CN thành lập Hội đồng tuyển dụng (có từ 5 đến 7 thành viên) để thực hiện việc tuyển dụng. Thành phần gồm:

- Chủ tịch Hội đồng: Là Lãnh đạo tổ chức KH&CN;

- Phó Chủ tịch Hội đồng: Là người Phụ trách công tác tổ chức cán bộ của tổ chức KH&CN;

- Các ủy viên Hội đồng: Là đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc tổ chức KH&CN  được giao quyền tuyển dụng viên chức;

- ủy viên kiêm Thư ký Hội đồng: Là người Phụ trách công tác tuyển dụng của tổ chức KH&CN.

3/ Tổ chức tuyển dụng chính thức:

Hội đồng tuyển dụng sẽ tổ chức việc tuyển dụng chính thức, bao gồm các bước sau:

- Tiếp nhận và xét hồ sơ dự tuyển; tổ chức sơ tuyển (trong trường hợp người đăng ký tuyển dụng cao hơn nhiều so với số lượng cần tuyển), công bố danh sách những người đủ điều kiện và tiêu chuẩn dự tuyển;

- Thông báo thể lệ, quy chế, môn thi, hình thức thi, thời gian, địa điểm thi;

- Tổ chức ra đề thi, thành lập Ban coi thi, Ban chấm thi;

- Tổ chức coi thi, chấm thi theo đúng quy chế;

- Báo cáo kết quả tuyển dụng lên Thủ trưởng tổ chức KH&CN (chậm nhất là 30 ngày sau khi tổ chức thi tuyển) để Thủ trưởng tổ chức KH&CN ra quyết định công nhận kết quả tuyển dụng.

4/ Công bố kết quả tuyển dụng, thông báo cho người dự tuyển:

Thủ trưởng tổ chức KH&CN công bố kết quả tuyển dụng (chậm nhất là 45 ngày kể từ khi kết thúc kỳ thi tuyển) và kết quả trúng tuyển tại trụ sở của đơn vị và gửi giấy thông báo cho người dự tuyển.

5/ Ký hợp đồng làm việc và nhận việc:

Người được tuyển dụng, khi nhận được giấy thông báo trúng tuyển phải đến tổ chức KH&CN để ký hợp đồng làm việc với Thủ trưởng tổ chức KH&CN và nhận việc theo quy định. Trường hợp có lý do chính đáng mà không thể đến ký hợp đồng làm việc và nhận việc đúng thời hạn quy định thì phải làm đơn đề nghị gia hạn thời gian ký hợp đồng làm việc, thời gian nhận việc. Thủ trưởng tổ chức KH&CN xem xét và gia hạn thời gian ký hợp đồng làm việc, thời gian nhận việc nhưng không quá 30 ngày kể từ khi nhận được giấy thông báo trúng tuyển (theo dấu Bưu điện).

Câu 81: Trình tự thủ tục xét tuyển viên chức?

Trả lời: Về cơ bản, thủ tục xét tuyển viên chức gần tương tự với thủ tục thi tuyển viên chức. Một số điểm khác cụ thể:

- Hội đồng tuyển dụng căn cứ yêu cầu, tiêu chuẩn, điều kiện tuyển dụng, thứ tự ưu tiên để xét tuyển thông qua hồ sơ và khi cần thiết có thể phỏng vấn từng người dự tuyển (không tổ chức thi tuyển). Trong trường hợp nhiều người có tiêu chuẩn và điều kiện bằng nhau ở chỉ tiêu tuyển dụng cuối cùng của kỳ xét tuyển, Hội đồng xét tuyển căn cứ vào yêu cầu cụ thể của ngạch tuyển dụng quyết định bổ sung thêm điều kiện xét để xác định người trúng tuyển;

- Hội đồng tuyển dụng báo cáo kết quả tuyển dụng lên Thủ trưởng tổ chức KH&CN (chậm nhất là 15 ngày sau khi tổ chức xét tuyển) để Thủ trưởng tổ chức KH&CN ra quyết định công nhận kết quả tuyển dụng;

- Thủ trưởng tổ chức KH&CN công bố kết quả xét tuyển (chậm nhất là 30 ngày kể từ khi kết thúc kỳ xét tuyển) tại trụ sở của đơn vị và gửi giấy thông báo cho người dự tuyển;

- Thủ trưởng tổ chức KH&CN ký hợp đồng làm việc và giao việc.

Câu 82: Trước khi được tuyển dụng chính thức vào làm việc tại tổ chức KH&CN, viên chức đã làm việc theo hợp đồng tại một đơn vị hành chính sự nghiệp khác của Nhà nước và có đóng bảo hiểm xã hội. Việc xếp lương cho viên chức sau khi tuyển dụng như thế nào để đảm bảo quyền lợi của người lao động?

Trả lời: Về nguyên tắc, xếp lương cho người vào làm việc tại đơn vị là do Thủ trưởng tổ chức KH&CN quyết định căn cứ vào năng lực và vị trí mà người đó được bố trí làm việc theo quy định của Nhà nước đối với ngạch viên chức được tuyển dụng. Tuy nhiên, để bảo đảm quyền lợi cho người lao động, tổ chức KH&CN có thể xem xét, tham khảo lịch sử lương của viên chức tại các đơn vị khác để xếp lương cho viên chức sau khi tuyển dụng với mức gần nhất so với mức lương người đó hưởng ở cơ quan cũ trước khi chuyển công tác đến tổ chức KH&CN.

Câu 83: Tổ chức KH&CN có được quyền tự quyết định thành lập hoặc sáp nhập, giải thể các đơn vị trực thuộc không? Thủ tục?

Trả lời: Theo Khoản 1 Điều 10 Nghị định 115  (và Khoản 1 Mục IX Thông tư  12), Thủ trưởng tổ chức KH&CN được quyền quyết định sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy và quy định chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trực thuộc; quyết định thành lập, sáp nhập và giải thể các tổ chức trực thuộc trên cơ sở tự cân đối nguồn lực để đảm bảo cho hoạt động của đơn vị.

Thủ tục thành lập hoặc sáp nhập, giải thể tổ chức trực thuộc: Trước khi quyết định những vấn đề nêu trên, thủ trưởng tổ chức KH&CN phải có Đề án báo cáo với cấp ủy Đảng cùng cấp để được đồng thuận bằng văn bản (trường hợp quan trọng phải báo cáo Hội nghị cán bộ viên chức của đơn vị và báo cáo cơ quan chủ quản). Đồng thời phải giao các đơn vị liên quan nghiên cứu phương án xử lý về tài chính, nhân sự… trước khi quyết định.

Câu 84: Tổ chức KH&CN có quyền thay đổi tên gọi không?

Trả lời: Theo quy định tại Khoản 5, Mục I Thông tư 12, tổ chức KH&CN chuyển đổi có thể thay đổi tên gọi (hoặc sử dụng tên gọi như trước khi chuyển đổi) cho phù hợp với hình thức hoạt động mới. Việc sử dụng tên gọi cũ hoặc thay đổi tên gọi do tổ chức KH&CN quyết định và được giải trình trong Đề án chuyển đổi.

Câu 85: Một số tổ chức KH&CN là đơn vị chủ quản của các đơn vị trực thuộc và đều là tổ chức KH&CN thuộc đối tượng của Nghị định115, quan hệ giữa tổ chức KH&CN chủ quản (mẹ) với các tổ chức KH&CN trực thuộc (con) như thế nào sau khi được tự chủ?

Trả lời: Tổ chức KH&CN chủ quản (mẹ) có các đơn vị trực thuộc (con) đều là đối tượng của Nghị định 115 thì trước tiên, các đơn vị con làm Đề án chuyển đổi theo quy định của Nghị định số 115 và Thông tư 12 để thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động tại đơn vị đó. Trong quá trình xây dựng Đề án, đơn vị trực thuộc cần xin ý kiến chỉ đạo của Tổ chức KH&CN mẹ để sau này Đề án của đơn vị trực thuộc phù hợp với định hướng phát triển của tổ chức mẹ. Điều này giúp cho việc đảm bảo tính độc lập cao trong hoạt động của các đơn vị trực thuộc nhưng đồng thời vẫn đảm bảo phát huy, tổng hợp sức mạnh của các đơn vị trực thuộc trong việc tham gia giải quyết các nhiệm vụ KH&CN quan trọng mà tổ chức mẹ là đầu mối tổ chức thực hiện. Trên cơ sở đề án của các tổ chức con, tổ chức mẹ xây dựng Đề án chung của Tổ chức mẹ.

Quan hệ giữa tổ chức KH&CN mẹ với các đơn vị con sau khi chuyển đổi được quy định trong Đề án chuyển đổi của tổ chức KH&CN mẹ và các Đề án chuyển đổi của các đơn vị con, đồng thời được thể hiện trong Điều lệ tổ chức và hoạt động của cả tổ chức mẹ và tổ chức con. Trong đó cần quy định rõ trước khi Đề án chuyển đổi của cả tổ chức mẹ và tổ chức con được phê duyệt.

Quyền của Tổ chức mẹ đối với tổ chức con về tổ chức và cán bộ (ví dụ bổ nhiệm Thủ trưởng tổ chức con; sáp nhập, giải thể tổ chức con; chỉ đạo hoạt động khoa học của tổ chức con theo định hướng chung của tổ chức mẹ; kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ sử dụng ngân sách nhà nước của tổ chức con phải phù hợp với kế hoạch của tổ chức mẹ…).

Trách nhiệm giữa tổ chức mẹ với tổ chức con (ví dụ hỗ trợ thủ tục tuyển chọn nhiệm vụ KH&CN, đầu tư phát triển, hỗ trợ pháp lý, sử dụng thương hiệu…).

Nghĩa vụ tài chính của các tổ chức con đối với tổ chức mẹ (ví dụ trích một phần lợi nhuận của tổ chức con vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của tổ chức mẹ, hỗ trợ quỹ phúc lợi hoặc quỹ dự phòng ổn định thu nhập của tổ chức mẹ, nộp kinh phí thuê thiết bị, tài sản của tổ chức mẹ để sản xuất kinh doanh…).

Câu 86: Tại sao tổ chức KH&CN phải xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ?

Trả lời: Tổ chức KH&CN phải xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ để  thiết lập các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu áp dụng thống nhất trong đơn vị, nhằm bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ KH&CN, duy trì hoạt động thường xuyên và tăng cường hiệu quả công tác quản lý trên nguyên tắc dân chủ, công bằng, công khai, phân phối theo lao động và trách nhiệm của từng vị trí công tác. Thông qua Quy chế chi tiêu nội bộ, các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền có thể quản lý hoạt động tài chính của đơn vị theo đúng các quy định của Nhà nước.

Quy chế chi tiêu nội bộ phải được gửi Kho bạc nhà nước để làm căn cứ kiểm soát chi, và gửi cơ quan chủ quản để báo cáo và theo dõi giám sát.

Câu 87: Nội dung của Quy chế chi tiêu nội bộ?

Trả lời: Quy chế chi tiêu nội bộ quy định chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu áp dụng thống nhất trong đơn vị liên quan đến các khoản chi: Thu nhập; hội nghị; công tác phí trong nước, ngoài nước; sử dụng điện thoại công vụ; nghiệp vụ thường xuyên; sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và khen thưởng, phúc lợi với các nguyên tắc như sau (theo quy định tại Khoản 3, Mục V, Thông tư 12):

Về thu nhập: Tổ chức KH&CN bảo đảm mức lương theo ngạch, bậc và các chế độ phụ cấp do Nhà nước quy định, sau đó phân chia theo hệ số điều chỉnh tăng thêm cho cán bộ, viên chức và người lao động theo nguyên tắc người nào có năng suất lao động, hiệu quả công tác cao, trách nhiệm cao và đóng góp nhiều cho việc tăng thu, tiết kiệm chi thì được hưởng mức thu nhập nhiều hơn;

Về chi tiêu hội nghị, công tác phí trong nước: Tổ chức KH&CN được quy định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức quy định của Nhà nước trong phạm vi nguồn kinh phí của đơn vị;

Về chế độ công tác phí nước ngoài: Tổ chức KH&CN thực hiện theo đúng quy định của Nhà nước khi sử dụng kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước. Trường hợp đơn vị quy định mức chi cao hơn thì phải sử dụng nguồn kinh phí từ các Quỹ của đơn vị để chi trả;

Về sử dụng điện thoại công vụ: Tiêu chuẩn trang bị điện thoại cho cán bộ quản lý và chi phí mua máy điện thoại, lắp đặt, hòa mạng thực hiện theo quy định hiện hành. Riêng mức thanh toán tiền cước sử dụng điện thoại, đơn vị được quyền xây dựng mức chi cao hơn hoặc thấp hơn quy định của Nhà nước đối với cơ quan hành chính;

Về thanh toán chi nghiệp vụ thường xuyên: Tùy theo từng loại hình hoạt động, đơn vị xây dựng mức chi cụ thể cao hơn hoặc thấp hơn mức quy định của Nhà nước;

Về hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ: Tùy theo tình hình cụ thể, đơn vị thực hiện phương thức quản lý phù hợp, có thể khoán thu, khoán chi đối với các bộ phận trực thuộc, trong đó quy định rõ tỷ lệ trích nộp để chi quản lý chung của đơn vị cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, quy định chế độ thống kê, kế toán theo quy định của pháp luật;

Về mức chi khen thưởng và phúc lợi: Căn cứ các hình thức khen thưởng, nguồn quỹ và nhu cầu hoạt động cụ thể, đơn vị xây dựng mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức quy định của Nhà nước.

Câu 88: Tổ chức KH&CN có được xây dựng định mức chi cao hơn hay thấp hơn quy định của Nhà nước không? Những nội dung chi nào phải theo quy định của Nhà nước?

Trả lời: - Đối với tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí: được xây dựng định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn định mức của Nhà nước, và được quy định trong Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị, quy định tại Khoản 3 Mục V Thông tư 12.

- Đối với tổ chức KH&CN thuộc đối tượng khoản 3 Điều 4 Nghị định 115: được quyết định định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn định mức của Nhà nước, và được quy định trong Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị, quy định tại Khoản 1 Mục VI Thông tư  12: “Tổ chức KH&CN được quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm về kinh phí hoạt động thường xuyên theo phương thức khoán hàng năm”.

Các nội dung chi sau đây phải theo quy định của Nhà nước:

- Đối với các khoản kinh phí do ngân sách nhà nước cấp để đầu tư xây dựng cơ bản, vốn đối ứng dự án, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định và kinh phí ngân sách nhà nước cấp để thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước giao (trừ nhiệm vụ KH&CN quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7 Nghị định 115);

- Định mức sử dụng xe ô tô do ngân sách nhà nước đầu tư, sử dụng trụ sở làm việc tại các công sở;

- Công tác phí nước ngoài sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước (trường hợp đơn vị quy định mức chi cao hơn thì phải sử dụng nguồn kinh phí từ các Quỹ của đơn vị để chi trả);

- Các khoản chi không thường xuyên.

Câu 89: Thế nào là hệ số thu nhập tăng thêm? Có thể nêu một ví dụ về phương pháp xây dựng bảng hệ số thu nhập tăng thêm của tổ chức KH&CN?

Trả lời: Hệ số thu nhập tăng thêm là hệ số phân chia lợi nhuận sau thuế của tổ chức KH&CN mà cán bộ viên chức của tổ chức KH&CN được hưởng thêm ngoài hệ số lương theo ngạch, bậc của Nhà nước. Hệ số thu nhập tăng thêm được xây dựng trên nguyên tắc người nào có năng suất lao động, hiệu quả công tác cao, trách nhiệm cao và đóng góp nhiều cho việc tăng thu, tiết kiệm chi của đơn vị thì sẽ có Hệ số thu nhập tăng thêm cao hơn. Khoảng cách hệ số giữa các chức danh cao nhất và thấp nhất trong đơn vị tùy theo điều kiện cụ thể của từng đơn vị và quy mô của kinh phí chênh lệch thu chi. Tỷ lệ và thẩm quyền trích lợi nhuận sau thuế cho thu nhập tăng thêm cũng cần được quy định trong Quy chế chi tiêu nội bộ.

Ví dụ: Bảng hệ số thu nhập tăng thêm của một Viện (ví dụ này chỉ mang tính ước lệ để tham khảo).        

Như vậy, nếu toàn bộ cán bộ, viên chức đều được xếp loại A thì tổng hệ số thu nhập tăng thêm của Viện là 898. Giả sử trong lợi nhuận sau thuế Viện trích 1 tỷ 796 triệu đồng để chi thu nhập cho cán bộ, viên chức thì mỗi hệ số thu nhập tăng thêm tương ứng với 2 triệu đồng (Ví dụ: Viện trưởng sẽ được hưởng hệ số 8 x 2 triệu = 16 triệu đồng). Có thể thấy, Viện trưởng nếu hoàn thành nhiệm vụ ở mức yếu (xếp loại D) thì thu nhập tăng thêm chỉ bằng nghiên cứu viên chính xếp loại trung bình (loại C) hoặc cán sự xếp loại A.

Bảng hệ số thu nhập tăng thêm này cần được xây dựng và thông qua Hội nghị cán bộ viên chức của Viện, và chỉ có hiệu lực khi được 2/3 đại biểu chính thức đồng ý bằng phiếu kín.

Câu 90: Làm thế nào để Quy chế chi tiêu nôi bộ có hiệu lực thực hiện?

Trả lời: Theo quy định tại Khoản 4, Mục V Thông tư 12, Quy chế chi tiêu nội bộ phải được xây dựng, thảo luận dân chủ, công khai và được báo cáo, thông qua tại Hội nghị cán bộ viên chức của đơn vị bằng phương thức bỏ phiếu kín với tỷ lệ đồng ý của trên 2/3 số đại biểu chính thức.

Câu 91: Quy chế chi tiêu nội bộ có thể điều chỉnh, sửa đổi được không? Thủ tục điều chỉnh, sửa đổi?

Trả lời: Quy chế chi tiêu nội bộ có thể điều chỉnh, sửa đổi. Về thủ tục, nội dung điều chỉnh, sửa đổi phải được thảo luận và thông qua tại Hội nghị cán bộ viên chức hàng năm bằng phương thức bỏ phiếu kín với ít nhất 2/3 số đại biểu chính thức tán thành.

Câu 92: Khi tổ chức KH&CN chuyển sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, Thủ trưởng dường như có nhiều quyền, như vậy có mất dân chủ không?

Trả lời: Trên thực tế, Thủ trưởng tổ chức KH&CN chuyển sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm được giao đầy đủ các quyền hạn để thực hiện tự chủ trong quản lý điều hành đơn vị. Tuy nhiên, Thủ trưởng tổ chức KH&CN cũng phải thực hiện đúng Quy chế dân chủ trong hoạt động của tổ chức KH&CN theo quy định của pháp luật.

Mục XII Thông tư 12 đã quy định:

Thủ trưởng tổ chức KH&CN có trách nhiệm bàn bạc với Ban chấp hành Công đoàn cùng cấp về:

- Quy chế chi tiêu nội bộ;

- Quy chế dân chủ cơ quan;

- Quy chế làm việc;

- Quy định về tuyển dụng, sử dụng cán bộ viên chức và người lao động;

- Phương án vay vốn tín dụng, hỗ trợ đầu tư.

Thủ trưởng tổ chức KH&CN báo cáo, xin ý kiến cấp ủy Đảng trước khi quyết định về những vấn đề:

- Quy hoạch phát triển, kế hoạch hoạt động và biện pháp thực hiện;

- Đề án thành lập, sáp nhập, giải thể các tổ chức trực thuộc;

- Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cho từ chức, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các chức vụ lãnh đạo.

Thủ trưởng tổ chức KH&CN phải báo cáo và xin ý kiến Hội nghị cán bộ viên chức của đơn vị:

- Quy chế chi tiêu nội bộ (biểu quyết bằng phiếu kín);

- Quy chế dân chủ cơ quan.

Vì vậy, sẽ không có hiện tượng mất dân chủ trong các tổ chức KH&CN sau khi chuyển đổi. Thủ trưởng tổ chức KH&CN chỉ thực sự có quyền khi làm đúng các quy định nói trên. Cần nhấn mạnh là khi các quy định về xin ý kiến đã được Đảng ủy, Công đoàn hoặc tập thể cán bộ viên chức thông qua, thì thủ trưởng đơn vị có toàn quyền quyết định để thực hiện các quy định này, mọi cán bộ viên chức đều phải tuân thủ quyết định của Thủ trưởng đơn vị.

Câu 93: Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ lãnh đạo các đơn vị trực thuộc tổ chức KH&CN như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại Mục 2, Phần IX Thông tư 12, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ lãnh đạo các đơn vị trực thuộc tổ chức KH&CN sẽ do Thủ trưởng tổ chức KH&CN quyết định. Trình tự, điều kiện bổ nhiệm, miễn nhiệm được thực hiện theo quy định của cơ quan chủ quản và phải phù hợp với quy định tại Quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển từ chức, miễn nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo (Ban hành kèm theo Quyết định số 27/2003/QĐ-TTg ngày 19/02/2003 của Thủ tướng Chính phủ).

Câu 94: Vai trò của tổ chức Đảng trong tổ chức KH&CN chuyển đổi?

Trả lời: Tổ chức Đảng trong tổ chức KH&CN vẫn hoạt động theo những quy định về tổ chức Đảng trong đơn vị sự nghiệp công lập như trước đây, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Đồng thời, theo quy định tại Khoản 1, Mục XII Thông tư 12, tổ chức Đảng trong tổ chức KH&CN chuyển đổi có trách nhiệm cho ý kiến về các vấn đề quan trọng sau đây dựa trên báo cáo của Thủ trưởng đơn vị:

Quy hoạch phát triển, kế hoạch hoạt động và biện pháp thực hiện;

Đề án thành lập, sáp nhập, giải thể các tổ chức trực thuộc;

Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cho từ chức, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các chức vụ lãnh đạo.

Câu 95: Vai trò của tổ chức Công đoàn trong tổ chức KH&CN chuyển đổi?

Trả lời: Tổ chức công đoàn trong tổ chức KH&CN vẫn hoạt động theo những quy định về tổ chức công đoàn trong đơn vị sự nghiệp công lập như trước đây, đảm bảo 2 chức năng chính là tham gia quản lý đơn vị và bảo vệ lợi ích hợp pháp chính đáng của cán bộ viên chức. Đồng thời, theo quy định cụ thể tại Khoản 2, Mục XII Thông tư 12, tổ chức Công đoàn trong tổ chức KH&CN chuyển đổi có trách nhiệm bàn bạc, phối hợp với Thủ trưởng đơn vị xây dựng các quy định sau đây nhằm bảo đảm quyền dân chủ trong cơ quan:

- Quy chế chi tiêu nội bộ;

- Quy chế dân chủ cơ quan;

- Quy chế làm việc;

- Quy định về tuyển dụng, sử dụng cán bộ, viên chức và người lao động;

- Phương án vay vốn tín dụng, hỗ trợ đầu tư.

Câu 96: Các chính sách tinh giản biên chế?

Trả lời: Theo Nghị định 132, có 5 chính sách sau đây trong việc tinh giản biên chế:

- Chính sách đối với những người về hưu trước tuổi;

- Chính sách đối với những người chuyển sang làm việc tại các tổ chức không hưởng kinh phí thường xuyên từ ngân sách nhà nước;

- Chính sách đối với những người thôi việc ngay;

- Chính sách đối với những người thôi việc sau khi đi học;

- Chính sách đối với những người thôi giữ chức vụ lãnh đạo do sắp xếp tổ chức.

Câu 97: Chế độ đối với người thuộc diện tinh giản biên chế về hưu trước tuổi?

Trả lời: Theo Điều 5, Nghị định 132 và Khoản 1, Mục III, Thông tư 02, cán bộ, công chức, viên chức của các tổ chức KH&CN thuộc diện tinh giản biên chế đủ 55 tuổi đến đủ 59 tuổi đối với nam, đủ 50 tuổi đến đủ 54 tuổi đối với nữ, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên thì được nghỉ hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và không bị trừ tỷ lệ lương hưu do nghỉ hưu trước tuổi. Ngoài việc hưởng chế độ hưu trí theo quy định, người đó còn được hưởng thêm 03 khoản trợ cấp sau đây:

- Trợ cấp 03 tháng tiền lương cho mỗi năm (đủ 12 tháng) nghỉ hưu trước tuổi. Trường hợp thời gian nghỉ hưu sớm có số tháng lẻ không đủ năm thì tính như sau:

l Số tháng lẻ đủ 6 tháng trở xuống được trợ cấp 01 tháng tiền lương;

l Số tháng lẻ trên 6 tháng đến 12 tháng được trợ cấp 02 tháng tiền lương.

- Trợ cấp 05 tháng tiền lương cho 20 năm đầu công tác có đóng đủ bảo hiểm xã hội;

- Trợ cấp 1/2 tháng tiền lương cho mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội (đủ 12 tháng) kể từ năm thứ 21 đóng bảo hiểm xã hội trở lên; (tiền lương để tính là tiền lương trung bình của 60 tháng cuối cùng).

Đối với những người thuộc diện tinh giản biên chế về hưu trước tuổi có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 19 năm 6 tháng trở lên đến 20 năm thì tổ chức KH&CN sẽ đóng 01 lần số tháng còn thiếu (mức đóng như trước khi tinh giản) vào quỹ hưu trí và quỹ tử tuất để giải quyết chế độ hưu trí như quy định và người đó sẽ được hưởng chế độ và các khoản trợ cấp như nêu trên.

Câu 98: Chế độ đối với những người thuộc diện tinh giản biên chế chuyển sang làm việc tại các tổ chức không hưởng kinh phí thường xuyên từ ngân sách nhà nước?

Trả lời: Theo Điều 6, Nghị định 132, những người thuộc diện tinh giản biên chế chuyển sang làm việc tại các tổ chức không hưởng kinh phí thường xuyên từ ngân sách nhà nước, được hưởng các chế độ sau:

- Trợ cấp 03 tháng tiền lương hiện hưởng;

- Trợ cấp 1/2 tháng tiền lương cho mỗi năm làm việc có đóng bảo hiểm xã hội.

Câu 99: Chế độ đối với những người thôi việc ngay?

Trả lời: Theo Điều 7, Nghị định 132, những người thuộc diện tinh giản biên chế thôi việc ngay, được hưởng các chế độ sau:

- Trợ cấp 03 tháng tháng tiền lương hiện hưởng để tìm việc làm;

- Trợ cấp 1,5 tháng tiền lương cho mỗi năm làm việc có đóng bảo hiểm xã hội.

Câu 100: Chế độ đối với những người thôi việc sau khi đi học?

Trả lời: Theo Điều 7, Nghị định 132, những người thuộc diện tinh giản biên chế tuổi dưới 45 do hạn chế về chuyên môn hoặc không phù hợp với nhiệm vụ được giao, nếu có nguyện vọng, tổ chức KH&CN tạo điều kiện cho đi học nghề để thôi việc, tự tìm việc mới, được hưởng các chế độ sau:

- Hưởng nguyên lương hiện hưởng, được cơ quan đóng bảo hiểm xã hội, y tế trong thời gian đi học, tối đa là 6 tháng;

- Trợ cấp một khoản kinh phí bằng chi phí cho khóa học nghề tối đa là 6 tháng tiền lương hiện hưởng để đóng cho cơ sở dạy nghề;

- Trợ cấp 03 tháng tiền lương hiện hưởng ở thời điểm đi học để tìm việc làm sau khi học;

- Trợ cấp 1/2 tháng lương cho mỗi năm làm việc có đóng bảo hiểm xã hội (đủ 12 tháng);

Trong thời gian học nghề được tính thời gian công tác liên tục (nhưng không được tính thâm niên để nâng lương hàng năm).

Câu 101: Chế độ đối với những người thôi giữ chức vụ lãnh đạo do sắp xếp tổ chức?

Trả lời: Theo Điều 8, Nghị định 132, cán bộ, công chức, viên chức thôi giữ chức vụ lãnh đạo do sắp xếp tổ chức được bảo lưu phụ cấp chức vụ đến hết thời hạn giữ chức vụ bổ nhiệm. Trường hợp thời hạn giữ chức vụ còn dưới 06 tháng thì được bảo lưu 06 tháng. Trong thời gian bảo lưu, nếu được bổ nhiệm vào chức vụ mới thì thôi hưởng bảo lưu phụ cấp chức vụ cũ để hưởng phụ cấp chức vụ mới kể từ ngày được bổ nhiệm.

Câu 102: Kinh phí để giải quyết chính sách tinh giản biên chế được lấy từ nguồn nào?

Trả lời: Về cơ bản, kinh phí để giải quyết chính sách tinh giản biên chế do ngân sách nhà nước cấp. Các tổ chức KH&CN cần làm các thủ tục theo quy định tại Nghị định số 132/NĐ-CP ngày 08/8/2007 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế và Thông tư hướng dẫn số 02/TTLT-BNV-BTC ngày 24/9/2007 để giải quyết chế độ cho số lao động dôi dư tại đơn vị. Nhà nước cũng khuyến khích các tổ chức KH&CN sử dụng nguồn kinh phí tự có để bổ sung hỗ trợ cho viên chức khi tinh giảm biên chế.

Câu 103: Các tổ chức KH&CN trước khi chuyển đổi theo Nghị định 115 có chức năng đào tạo sau đại học, vậy sau khi chuyển đổi có được cấp kinh phí để duy trì công tác đào tạo nữa không?

Trả lời: Nếu trong Điều lệ về Tổ chức và Hoạt động của tổ chức KH&CN sau khi chuyển đổi theo Nghị định 115 được cấp có thẩm quyền phê duyệt vẫn có chức năng đào tạo sau đại học, thì sau khi chuyển đổi tổ chức KH&CN được tiếp tục giao kế hoạch và kinh phí đào tạo theo quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Câu 104: Tổ chức KH&CN sau khi chuyển đổi theo Nghị định 115 có được cấp kinh phí để duy trì, bảo dưỡng các thiết bị được giao không?

Trả lời: Với thiết bị thuộc các tổ chức KH&CN nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược chính sách phục vụ quản lý nhà nước (theo Khoản 3, Điều 4, Nghị định 115), Nhà nước vẫn tiếp tục cấp kinh phí để duy trì, bảo dưỡng các thiết bị đó trong kinh phí hoạt động thường xuyên của đơn vị. Với thiết bị thuộc tổ chức KH&CN chuyển đổi sang hình thức tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên, đơn vị chủ động tự cân đối, bảo đảm nguồn kinh phí này sau khi chuyển đổi.

Câu 105: Vì sao trong thực tế một số tổ chức KH&CN lại muốn chuyển đổi theo Nghị định 43?

Trả lời: Một số tổ chức KH&CN muốn chuyển đổi hoạt động theo Nghị định  43 vì những lý do sau:

- Nghị định 43 không yêu cầu các tổ chức sự nghiệp phải xây dựng Đề án chuyển đổi và trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;

- Theo Nghị định 43, các tổ chức sự nghiệp được cấp kinh phí hoạt động thường xuyên, kể cả sau năm 2009;

- Theo Nghị định 43, các tổ chức sự nghiệp không có nguy cơ phải sáp nhập, giải thể nếu yếu kém (không xây dựng Đề án chuyển đổi, Đề án chuyển đổi không được phê duyệt, không thể tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên sau 2009).

Tuy nhiên theo xu hướng xã hội hóa và tăng cường tính tự chủ hiện nay, các tổ chức sự nghiệp hoạt động theo Nghị định 43 cũng sẽ phải đối mặt với khả năng trong một thời gian ngắn tới đây ngân sách nhà nước cũng sẽ cấp kinh phí theo nhiệm vụ, không cấp theo số lượng biên chế mang nặng tính bao cấp như hiện nay. Và nếu thực sự yếu kém không thể tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên được thì dù không muốn cũng không thể tiếp tục hoạt động được, phải tính đến phương án sáp nhập, giải thể. Còn việc xây dựng Đề án chuyển đổi chính là bước tập dượt cho lãnh đạo tổ chức KH&CN thể hiện khả năng tự chủ, đồng thời chuẩn bị các điều kiện cho sự phát triển của tổ chức KH&CN trong cơ chế mới.

Câu 106: Một số tổ chức KH&CN đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển đổi theo quy định của Nghị định 43, nay muốn chuyển đổi theo Nghị định 115 thì phải làm thủ tục gì?

Trả lời: Trước hết phải khẳng định, tổ chức KH&CN đã có đủ điều kiện để chuyển đổi theo quy định của Nghị định 115 mà lại làm thủ tục chuyển đổi theo Nghị định 43 là không đúng với quy định của pháp luật và làm trái với chính quy định của Nghị định 43: Tại Khoản 3, Điều 1, Nghị định 43 đã quy định: “Các tổ chức KH&CN thực hiện theo quy định tại Nghị định 115”.

Đối với trường hợp tổ chức KH&CN đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển đổi theo quy định của Nghị định 43, nay muốn chuyển đổi theo Nghị định 115 thì phải xây dựng Đề án chuyển đổi theo quy định của Nghị định 115 trình lại với cơ quan có thẩm quyền (theo trình tự quy định tại Thông tư 12). Cơ quan có thẩm quyền sẽ ban hành quyết định phê duyệt Đề án chuyển đổi theo Nghị định 115 và đồng thời bãi bỏ quyết định cho phép hoạt động theo Nghị định 43 đã ban hành trước đây.



Hình ảnh hoạt động

Công nghệ mới - Sản phẩm mới

Liên kết website

logo petech